Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Vũ Đức Cần với đề tài "Sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro cho vay tín dụng vi mô – Nghiên cứu thí nghiệm tại vùng đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, mã số 9340201, bảo vệ năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Quang Thông và TS. Nguyễn Đức Quang (Đại học Middlesex, London, Anh Quốc).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tài chính vi mô (TCVM) và tín dụng vi mô (TDVM) đóng vai trò then chốt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và cải thiện sinh kế cho dân cư thu nhập thấp. Tại Việt Nam, nhu cầu tiếp cận vốn nhỏ lẻ phục vụ sản xuất và tiêu dùng rất lớn nhưng nguồn cung tín dụng chính thức còn hạn hẹp. Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho thấy đến cuối năm 2018, tổng dư nợ toàn nền kinh tế đạt khoảng 7,2 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng phi chính thức chiếm hơn 20%. Thị trường cho vay tiêu dùng chứng kiến sự gia tăng của 16 công ty tài chính (trong đó 6 công ty là công ty con của các ngân hàng thương mại lớn gồm Fccom của MSB, Fe Credit của VPBank, HD Saison của HDBank, SHB Finance của SHB, MCredit của MB và Tài chính Bưu điện của SeABank). Tình trạng thiếu hụt vốn chính thức khiến "tín dụng đen" bùng phát tại nhiều địa phương, làm gia tăng rủi ro kinh tế - xã hội.
Về mặt học thuật, rủi ro tín dụng đối với các khoản vay nhỏ lẻ là thách thức trọng yếu của các tổ chức tài chính. Hầu hết các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam tiếp cận hoạt động TCVM dựa trên các chỉ tiêu tài chính, phân tích định tính hoặc khảo sát mức sống dân cư một cách rời rạc. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tác động của các nhân tố hành vi cá nhân—cụ thể là sở thích rủi ro và các cấu phần của vốn xã hội—đối với rủi ro nợ xấu trong hoạt động TDVM thông qua phương pháp kinh tế học thực nghiệm tại hiện trường (artefactual field experiment), đồng thời kiểm chứng sự khác biệt giữa hai khu vực nông thôn và đô thị tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định, phân tích và lượng hóa tác động của các nhân tố hành vi (sở thích rủi ro, vốn xã hội) cùng các đặc điểm xã hội - nhân khẩu học của người vay vốn đến rủi ro cho vay TDVM tại các tổ chức tín dụng (TCTD) và tổ chức TCVM ở khu vực ĐBSCL.
Luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Sở thích rủi ro (risk preference) cũng như các yếu tố xã hội - nhân khẩu học khác của người vay vốn có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM của các tổ chức TCVM?
- Vốn xã hội (social capital) cũng như các yếu tố xã hội - nhân khẩu học khác của người vay vốn vi mô có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM của các tổ chức TCVM?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khách hàng vay vốn TDVM tại các TCTD (như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Agribank, Ngân hàng Chính sách Xã hội - NHCSXH), các tổ chức TCVM chính thức, bán chính thức và các chương trình tín dụng đoàn thể. Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm hành vi (thái độ rủi ro, vốn xã hội) và tình trạng phát sinh nợ xấu của người vay.
- Phạm vi không gian: Thực hiện khảo sát và thí nghiệm thực địa tại 6 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL đại diện cho cả khu vực nông thôn và thành thị, bao gồm: Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre và Long An.
- Phạm vi mẫu: 176 khách hàng vay vốn TDVM trực tiếp tham gia phỏng vấn và các trò chơi thí nghiệm kinh tế.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ 6 đợt khảo sát và thí nghiệm thực địa được tiến hành từ tháng 05/2017 đến tháng 10/2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh hai trục lý thuyết trọng tâm: sở thích rủi ro và vốn xã hội trong mối liên hệ với tín dụng vi mô.
Nghiên cứu về sở thích rủi ro trong tín dụng vi mô
Lý thuyết nền tảng khởi nguồn từ lý thuyết thỏa dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory) của Neumann và Morgenstern (1944), giả định con người ra quyết định hợp lý tối đa hóa độ thỏa dụng. Tversky và Kahneman (1979, 1992) phát triển lý thuyết triển vọng (Prospect Theory), chứng minh con người e ngại rủi ro trong miền lời nhưng lại tìm kiếm rủi ro trong miền lỗ so với một điểm tham chiếu.
Trong hoạt động tín dụng, Stiglitz và Weiss (1981) lập luận về hiện tượng nghịch tuyển và rủi ro đạo đức, cho rằng người vay có nợ xấu thường có động cơ đầu tư vào các dự án mạo hiểm với kỳ vọng lợi nhuận cao và sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao. Ngược lại, thí nghiệm thực địa của Zeballos và cộng sự (2014) tại Bolivia chỉ ra rằng người vay không có nợ xấu lại là những người tìm kiếm rủi ro nhiều hơn nhóm có nợ xấu; người nghèo không hoàn trả được nợ không phải vì đầu tư mạo hiểm mà do quá e ngại rủi ro dẫn đến đầu tư không hiệu quả hoặc sử dụng sai mục đích khoản vay.
Nghiên cứu của Binswanger (1980) tại vùng bán nhiệt đới Ấn Độ (SAT) cho thấy phụ nữ e ngại rủi ro hơn nam giới và người ở khu vực nhiều rủi ro có xu hướng né tránh rủi ro cao hơn. Vieider và cộng sự (2015) khảo sát 504 hộ tại Ethiopia ghi nhận người độc thân ít e ngại rủi ro hơn, trong khi phụ nữ và người cao tuổi né tránh rủi ro nhiều hơn. Eckel và Grossman (2008) khẳng định nữ sinh viên ngại rủi ro hơn nam giới. Giné và cộng sự (2010) tại Peru chỉ ra cơ chế cho vay nhóm có thể gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro đối với người vay e ngại rủi ro.
Tại Việt Nam, Vieider và cộng sự (2013) nhận định nông dân Việt Nam nhìn chung trung lập với rủi ro ở mức trung bình, thu nhập tương quan nghịch với tính né tránh rủi ro. Tanaka và cộng sự (2010) và Nguyen và cộng sự (2016) khảo sát nông dân miền Bắc và miền Nam, kết luận người có thu nhập cao kiên nhẫn hơn và quan tâm đến tương lai nhiều hơn người nghèo.
Nghiên cứu về vốn xã hội trong hoạt động tín dụng
Vốn xã hội được nhìn nhận là mạng lưới liên kết, lòng tin và các chuẩn mực tương hỗ (Bourdieu, 1986; Coleman, 1988; Fukuyama, 2001-2002; Portes, 1998). Karlan (2005) định nghĩa vốn xã hội là khả năng và mối quan hệ giúp cá nhân khắc phục sự phi đối xứng thông tin; thực nghiệm tại Peru của Karlan chứng minh người có vốn xã hội cao có tỷ lệ hoàn trả nợ và tiết kiệm cao hơn. Glaeser và cộng sự (1999, 2000) đo lường lòng tin (trust) và sự tin cậy (trustworthiness) qua thí nghiệm tiền tệ, nhận thấy sự gắn kết xã hội làm gia tăng lòng tin, trong khi khoảng cách chủng tộc/quốc tịch làm giảm sự đáng tin cậy. Cassar và cộng sự (2010) với 1.554 người tham gia tại 259 nhóm vay thực nghiệm xác nhận lòng tin thúc đẩy sự đóng góp nhóm. Wenner (1995) tại Costa Rica và Wydick (1999) tại Guatemala chỉ ra giám sát ngang hàng và thông tin địa phương giúp giảm tỷ lệ nợ xấu. Ngược lại, Akram và Routray (2013) tại Pakistan phát hiện chỉ số vốn xã hội có mối quan hệ không đáng kể với việc tham gia TCVM.
Ở Việt Nam, nghiên cứu vốn xã hội chủ yếu gắn với kinh tế nông thôn: Nguyễn Tuấn Anh và Thomése (2007) phân tích vai trò vốn xã hội trong dồn điền đổi thửa; Ngô Thị Phương Lan (2011) nghiên cứu vốn xã hội trong phân tán rủi ro khi chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm tại ĐBSCL; Appold và Nguyễn Quý Thanh (2004) xem xét vốn xã hội đối với vay vốn khởi nghiệp; Đinh Hồng Hải (2013), Lê Ngọc Hùng (2008), Trần Hữu Dũng (2003) phân tích khía cạnh lý thuyết và chi phí duy trì vốn xã hội. Nghiên cứu thực nghiệm về TCVM có Mai Thị Hồng Đào (2016), Phan Đình Khôi (2013), Đinh Phi Hổ và Đồng Đức (2015), Nguyễn Hồng Thu (2018).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nào tại Việt Nam tích hợp đồng thời hai yếu tố hành vi là sở thích rủi ro và vốn xã hội để giải thích xác suất nợ xấu của người vay TDVM. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách áp dụng phương pháp thí nghiệm hiện trường có thưởng bằng tiền mặt thật, đo lường trực tiếp hành vi lựa chọn của khách hàng vay vốn tại ĐBSCL, đồng thời kiểm định sự khác biệt hành vi giữa khu vực nông thôn và thành thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa ba khối lý thuyết:
- Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory): Cung cấp cơ sở phân tích hành vi của người vay đối với rủi ro qua hàm giá trị $V(x)$ lồi ở miền lỗ và lõm ở miền lời, phản ánh tâm lý e ngại tổn thất (loss aversion) và hiệu ứng chắc chắn (certainty effect). Sở thích rủi ro được chia thành ba nhóm: e ngại rủi ro (risk-averse), trung lập với rủi ro (risk-neutral) và tìm kiếm rủi ro (risk-seeking).
- Lý thuyết vốn xã hội (Social Capital Theory): Tiếp cận vốn xã hội cá nhân qua hai trụ cột hành vi thực nghiệm: mức độ hợp tác/đóng góp cho cộng đồng (reciprocity/public goods contribution) và lòng tin/sự đáng tin cậy (trust/trustworthiness).
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng trong tín dụng vi mô: Kết hợp quan điểm của Stiglitz và Weiss (1981) và Karlan (2005) về vai trò của sàng lọc, áp lực xã hội và giám sát cộng đồng trong việc giảm thiểu rủi ro đạo đức.
- Đo lường nợ xấu: Luận án định lượng rủi ro tín dụng bằng biến nhị phân $Y$ ($Y = 1$ nếu người vay từng có nợ xấu quá hạn không thể trả đúng hạn, $Y = 0$ nếu trả nợ tốt đúng hạn), căn cứ theo quy định phân loại nợ của NHNN Việt Nam (Thông tư 43/2016/TT-NHNN). Hiệu quả và tính bền vững của tổ chức TCVM được quy chiếu theo các tiêu chí: Tự bền vững về thể chế (ISS), Tự bền vững về hoạt động (OSS) và Tự bền vững về tài chính (FSS).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia để thiết kế kịch bản thí nghiệm) và phương pháp nghiên cứu định lượng thực nghiệm (artefactual field experiment).
| Hạng mục thiết kế |
Nội dung chi tiết trong luận án |
| Địa bàn khảo sát |
6 tỉnh ĐBSCL: Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Long An |
| Quy mô mẫu |
176 khách hàng vay vốn TDVM (tham gia đầy đủ khảo sát và 3 trò chơi) |
| Thời gian thực địa |
Tháng 05/2017 đến tháng 10/2017 |
| Căn cứ tiền thưởng |
Thu nhập và chi tiêu bình quân 1 ngày/người tại Việt Nam (Bảng 3.2 trong văn bản) |
| Kỹ thuật ước lượng chính |
Hồi quy Binary Logistic |
| Kiểm định tính vững |
Hồi quy Probit (Robustness check) |
| Công cụ xử lý |
Phần mềm thống kê SPSS |
Thiết kế ba trò chơi thí nghiệm kinh tế:
- Thí nghiệm 1: Khơi gợi sở thích rủi ro (Risk Game): Áp dụng quy trình của Eckel và Grossman (2002). Người tham gia chọn một trong các phương án canh bạc với xác suất 50/50 tung đồng xu, có mức độ rủi ro và giá trị kỳ vọng tăng dần để phân loại đối tượng thành nhóm e ngại rủi ro, trung lập hoặc tìm kiếm rủi ro (đối chiếu tham chiếu với phương pháp Holt và Laury, 2002).
- Thí nghiệm 2: Đóng góp cho cộng đồng (Public Goods Game): Áp dụng theo Camerer và Fehr (2003). Người tham gia được cấp một khoản tiền ban đầu và quyết định giữ lại cho bản thân hay đóng góp vào quỹ chung của nhóm/cộng đồng để đo lường tính vị tha và tinh thần hợp tác tương trợ.
- Thí nghiệm 3: Trò chơi niềm tin (Trust Game): Áp dụng theo Camerer và Fehr (2003) và Berg và cộng sự (1995). Người gửi (Người 1) quyết định chuyển một phần tiền cho Người 2; số tiền này được nhân lên gấp 3 lần; Người 2 sau đó quyết định gửi lại bao nhiêu tiền cho Người 1. Thí nghiệm đo lường đồng thời mức độ tin tưởng (số tiền gửi đi) và mức độ đáng tin cậy/tương hỗ (số tiền hoàn trả).
Mô hình kinh tế lượng
Luận án thiết lập hàm hồi quy Logistic dạng:
$$P(Y_i = 1) = \frac{1}{1 + e^{-(\beta_0 + \sum \beta_j X_{ji})}}$$
Trong đó:
- $Y_i$: Tình trạng nợ xấu của người vay thứ $i$ (1: có nợ xấu, 0: không có nợ xấu).
- $X_{ji}$: Các biến độc lập gồm: Biến đo lường sở thích rủi ro (các mức lựa chọn trong Risk Game); Biến đo lường vốn xã hội (tỷ lệ đóng góp trong Public Goods Game, số tiền gửi và gửi lại trong Trust Game); Các biến kiểm soát nhân khẩu học và khoản vay (giới tính, độ tuổi, học vấn, nơi sinh sống nông thôn/thành thị, tài sản thế chấp, nguồn thu nhập chính, quy mô món vay, nơi vay vốn).
- Mức độ phù hợp tổng quát được kiểm định qua -2 Log Likelihood, kiểm định Omnibus, Hosmer-Lemeshow và Wald test.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan
Chương 1 thiết lập cơ sở hình thành đề tài nghiên cứu. Tác giả nêu bật bối cảnh bùng nổ của thị trường tài chính tiêu dùng tại Việt Nam, sự chênh lệch cung cầu trên thị trường vốn vi mô chính thức và thực trạng phát triển TDVM tại ĐBSCL. Nội dung chương xác lập mục tiêu nghiên cứu, hệ thống hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi, xác định đối tượng là 176 khách hàng vay vốn tại 6 tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn tháng 5 đến tháng 10 năm 2017. Chương này cũng phân định rõ những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn của luận án, đồng thời giới thiệu cấu trúc tổng thể gồm 5 chương.
Chương 2: Sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro cho vay tín dụng vi mô
Chương 2 hoàn thiện nền tảng lý thuyết và tổng quan tài liệu. Trọng tâm của chương là:
- Trình bày chi tiết lý thuyết thỏa dụng kỳ vọng và lý thuyết triển vọng của Tversky và Kahneman (1979) thông qua 7 vấn đề tình huống thực nghiệm và đồ thị hàm giá trị giả thiết (Hình 2.1).
- Phân tích cơ chế tác động của sở thích rủi ro đến hành vi vay và trả nợ trong TDVM; so sánh các luận điểm đối lập giữa trường phái Stiglitz - Weiss (1981) và phát hiện thực nghiệm của Zeballos và cộng sự (2014).
- Phân tích vai trò của vốn xã hội đối với hoạt động tín dụng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và bối cảnh đặc thù của vốn xã hội nông thôn Việt Nam.
- Khái quát các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro và hiệu quả TCVM, phân loại nợ xấu theo thông lệ quốc tế và quy định hiện hành của NHNN Việt Nam, từ đó xác lập khung lý thuyết nghiên cứu của luận án (Hình 2.2).
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm kinh tế hiện trường và phương pháp phân tích định lượng:
- Cơ sở lựa chọn địa bàn 6 tỉnh ĐBSCL và chọn mẫu 176 quan sát.
- Phân tích và lựa chọn phương pháp khơi gợi sở thích rủi ro của Eckel và Grossman (2002) (so sánh với Holt và Laury, BART); lựa chọn Public Goods Game và Trust Game của Camerer và Fehr (2003).
- Căn cứ xác định mức chi trả thưởng trong các trò chơi dựa trên số liệu thống kê thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người một ngày tại Việt Nam (Bảng 3.2).
- Quy trình 5 bước tổ chức thực nghiệm thực địa: chuẩn bị cơ sở vật chất, giải thích quy tắc trò chơi trung lập, phát phiếu quyết định độc lập, thực hiện tung đồng xu/tính toán kết quả và chi trả tiền mặt ngay tại chỗ.
- Thiết lập 4 mô hình hồi quy Binary Logistic (mô hình riêng cho Risk Game, Public Goods Game, Trust Game và mô hình tổng hợp cả 3 trò chơi), đi kèm phương pháp kiểm định tính vững bằng mô hình Probit.
Chương 4: Phân tích tác động của các yếu tố đến rủi ro TDVM – Các khảo sát và thí nghiệm kinh tế tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm, thể hiện toàn bộ kết quả phân tích thống kê mô tả, kiểm định phi tham số và ước lượng kinh tế lượng:
- Thống kê mô tả: Trình bày đặc điểm mẫu khảo sát qua các bảng thống kê và biểu đồ (Hình 4.1 đến Hình 4.9) về cơ cấu nợ xấu, học vấn, nơi sinh sống (nông thôn chiếm đa số nhưng có tỷ lệ đáng kể ở thành thị), nguồn thu nhập chính và tỷ lệ sử dụng tài sản thế chấp.
- Thống kê lựa chọn trong thí nghiệm: Phân bổ người tham gia theo các mức độ rủi ro trong Risk Game, tỷ lệ đóng góp quỹ công và các tỷ lệ gửi tiền trong Trust Game.
- Kiểm định sự khác biệt: Kiểm định Chi-square và ANOVA (Bảng 4.5 đến Bảng 4.12) cho thấy:
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm nợ xấu giữa nhóm người tìm kiếm rủi ro và nhóm người e ngại rủi ro.
- Có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ nợ xấu theo mức độ đóng góp quỹ cộng đồng.
- Người có vai trò gửi tiền nhiều hơn trong Trust Game thể hiện tỷ lệ nợ xấu thấp hơn đáng kể.
- Kết quả hồi quy Binary Logistic (Bảng 4.13 đến Bảng 4.19):
- Mức độ ưa thích rủi ro có hệ số âm có ý nghĩa thống kê đối với xác suất nợ xấu: người có xu hướng tìm kiếm rủi ro càng cao thì khả năng bị nợ xấu càng giảm; ngược lại, người càng e ngại rủi ro thì xác suất rơi vào nợ xấu càng lớn.
- Vốn xã hội (tỷ lệ đóng góp cho cộng đồng và số tiền gửi trong trò chơi niềm tin) có hệ số âm có ý nghĩa thống kê đối với biến nợ xấu: người có tính tương trợ cao và tin tưởng đối tác có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn.
- Biến quy mô khoản vay có tác động làm giảm xác suất nợ xấu.
- Biến nơi cư trú (thành thị so với nông thôn) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với rủi ro nợ xấu.
- Kiểm định tính vững (Bảng 4.20 và 4.21): Ước lượng mô hình Probit cho kết quả đồng nhất về dấu và mức ý nghĩa thống kê của các biến hành vi, khẳng định độ tin cậy của kết quả hồi quy Logistic.
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các hàm ý chính sách
Chương 5 thảo luận sâu các kết quả thực nghiệm thu được từ Chương 4, đối chiếu với các lý thuyết kinh tế và bối cảnh thực tế tại Việt Nam:
- Thảo luận bản chất của hành vi e ngại rủi ro tại vùng ĐBSCL: người vay nghèo quá thận trọng thường đầu tư vào các phương án sản xuất manh mún, lợi nhuận thấp, không đủ bù đắp chi phí sinh hoạt và hoàn trả nợ gốc khi gặp biến cố. Trong khi đó, người có xu hướng chấp nhận rủi ro dám mở rộng quy mô sản xuất và đạt hiệu quả vốn tốt hơn.
- Đề xuất các hàm ý chính sách phân cấp:
- Đối với các tổ chức TCVM và TCTD: Đưa tiêu chí vốn xã hội và hành vi tín nhiệm cộng đồng vào quy trình thẩm định tín dụng; cải tiến phương thức cho vay nhóm tương hỗ; thiết kế quy mô món vay phù hợp để nâng cao hiệu quả sinh lời của hộ vay.
- Đối với Chính phủ và NHNN: Hoàn thiện khung pháp lý cho TCVM (theo Luật các TCTD 2010), có cơ chế hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi dài hạn cho tổ chức TCVM, tăng cường quản lý chấn chỉnh các công ty tài chính tiêu dùng và ngăn chặn tín dụng đen tại khu vực nông thôn.
- Trình bày các hạn chế về cỡ mẫu, dữ liệu cắt ngang và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án là một trong những công trình thực nghiệm hiện trường đầu tiên tại Việt Nam kết hợp đồng thời sở thích rủi ro và vốn xã hội để giải thích rủi ro tín dụng vi mô, bổ sung bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho lĩnh vực kinh tế học hành vi và tài chính hành vi tại các nước đang phát triển.
- Kết quả nghiên cứu bác bỏ giả thuyết của Stiglitz và Weiss (1981) trong bối cảnh người vay TDVM tại ĐBSCL, đồng thời ủng hộ kết luận thực nghiệm của Zeballos và cộng sự (2014): những người tìm kiếm rủi ro có xác suất nợ xấu thấp hơn, trong khi những người càng e ngại rủi ro lại có khả năng bị nợ xấu cao hơn. Điều này giải thích hiện tượng người nghèo e ngại rủi ro thường chọn mô hình sản xuất kém hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ.
- Luận án khẳng định vai trò giảm thiểu rủi ro nợ xấu của vốn xã hội: tinh thần tương trợ cộng đồng (đo qua Public Goods Game) và lòng tin (đo qua Trust Game) có mối tương quan nghịch chiều có ý nghĩa thống kê với rủi ro nợ xấu TDVM.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Phát hiện về quy mô khoản vay: Khi quy mô món vay tăng lên ở mức độ phù hợp, tỷ lệ nợ xấu của khách hàng có xu hướng giảm xuống do người vay có đủ nguồn lực để tổ chức sản xuất kinh doanh hiệu quả.
- Phát hiện về địa bàn cư trú: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nợ xấu giữa khu vực nông thôn và đô thị tại 6 tỉnh ĐBSCL, cung cấp cơ sở để các tổ chức tài chính mở rộng mạng lưới TDVM ra cả hai khu vực.
- Hệ thống giải pháp thực tiễn:
- Kiến nghị các TCTD và tổ chức TCVM xây dựng bộ công cụ phỏng vấn/chấm điểm tín dụng phi tài chính, tích hợp mức độ tham gia hoạt động cộng đồng và uy tín xã hội của khách hàng thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp.
- Khuyến nghị Chính phủ và NHNN hoàn thiện thể chế hướng dẫn thi hành Luật các TCTD liên quan đến TCVM, tạo điều kiện huy động vốn xã hội, đồng thời siết chặt kiểm soát các hình thức tín dụng đen và cho vay tiêu dùng biến tướng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án tự xác định các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo dựa trên phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Hạn chế về quy mô và không gian mẫu: Mẫu nghiên cứu dừng lại ở 176 khách hàng tại 6 tỉnh ĐBSCL. Dù đã đại diện cho khu vực nghiên cứu, quy mô mẫu còn khiêm tốn và chưa bao phủ toàn bộ 13 tỉnh thành của vùng ĐBSCL cũng như các vùng kinh tế - sinh thái khác tại Việt Nam.
- Hạn chế về bản chất dữ liệu: Dữ liệu thu thập là dữ liệu cắt ngang (cross-sectional data) tại một thời điểm (năm 2017), chưa theo dõi được sự biến động về sở thích rủi ro, vốn xã hội và lịch sử hoàn trả nợ của người vay qua chuỗi thời gian (panel data).
- Hạn chế về môi trường thí nghiệm: Dù tiền thưởng được quy đổi sát với mức chi tiêu bình quân ngày, các trò chơi thực nghiệm vẫn mang tính chất mô phỏng với số tiền giới hạn, có thể chưa phản ánh trọn vẹn hành vi của đối tượng khi đứng trước các quyết định tài chính thực tế có quy mô tiền tệ rất lớn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu ra các khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên hoặc Duyên hải miền Trung; thiết kế các nghiên cứu dài hạn (longitudinal studies) để quan sát động thái hành vi; bổ sung các biến số thực nghiệm về sở thích thời gian (time preference, tính kiên nhẫn) và tác động của biến đổi khí hậu đến rủi ro sinh kế của hộ vay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết kế và thực thi thí nghiệm kinh tế hiện trường (artefactual field experiment), phương pháp xây dựng kịch bản 3 trò chơi (Risk Game, Public Goods Game, Trust Game) và quy trình xử lý dữ liệu thực nghiệm bằng mô hình hồi quy Binary Logistic kết hợp kiểm định tính vững Probit trên phần mềm SPSS.
- Đối với cán bộ quản trị và tín dụng tại các tổ chức TCVM, TCTD (Agribank, NHCSXH, Quỹ CEP, Quỹ Tín dụng Nhân dân): Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các bảng tiêu chí đánh giá tín nhiệm khách hàng dựa trên vốn xã hội, sự tin cậy và thái độ rủi ro, hỗ trợ ra quyết định cấp tín dụng vi mô không có tài sản bảo đảm.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, NHNN): Cung cấp luận cứ thực chứng để hoạch định chính sách phát triển TCVM, xây dựng khuôn khổ kiểm soát rủi ro tín dụng nhỏ lẻ và triển khai các chương trình tài chính toàn diện nhằm đẩy lùi nạn tín dụng đen.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và triển khai tại những địa phương nào?
Luận án khảo sát và tiến hành thí nghiệm thực địa trực tiếp với 176 khách hàng vay vốn TDVM tại 6 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, bao gồm: Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre và Long An, trong khoảng thời gian từ tháng 05/2017 đến tháng 10/2017.
2. Các trò chơi thí nghiệm kinh tế nào được áp dụng để đo lường hành vi của người vay?
Tác giả sử dụng 3 trò chơi kinh tế thực nghiệm có thưởng bằng tiền mặt thật:
- Thí nghiệm khơi gợi sở thích rủi ro (Risk Game) theo phương pháp của Eckel và Grossman (2002).
- Thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng (Public Goods Game) theo phương pháp của Camerer và Fehr (2003).
- Thí nghiệm về lòng tin (Trust Game) theo phương pháp của Camerer và Fehr (2003) và Berg và cộng sự (1995).
3. Mối quan hệ giữa sở thích rủi ro và rủi ro nợ xấu được kết luận như thế nào?
Kết quả hồi quy thực nghiệm cho thấy người có mức độ tìm kiếm rủi ro càng cao thì xác suất bị nợ xấu càng thấp; ngược lại, người càng e ngại rủi ro thì khả năng bị nợ xấu càng cao. Kết quả này trái ngược với giả thuyết của Stiglitz và Weiss (1981) nhưng hoàn toàn nhất quán với phát hiện thực nghiệm của Zeballos và cộng sự (2014) tại Bolivia.
4. Vốn xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hoàn trả nợ của người vay TDVM?
Vốn xã hội tác động tích cực đến việc giảm thiểu rủi ro cho vay TDVM. Cụ thể, những người có mức độ đóng góp cao cho quỹ cộng đồng trong Public Goods Game và những người thể hiện lòng tin cao (chuyển nhiều tiền cho đối tác) trong Trust Game có tỷ lệ phát sinh nợ xấu thấp hơn đáng kể so với những người còn lại.
5. Có sự khác biệt về rủi ro nợ xấu giữa khu vực nông thôn và thành thị hay không?
Kết quả kiểm định thống kê và phân tích hồi quy trong luận án xác nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nợ xấu giữa khách hàng vay vốn TDVM sinh sống tại khu vực thành thị và khu vực nông thôn tại địa bàn nghiên cứu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Vũ Đức Cần đã giải quyết thành công khoảng trống nghiên cứu về tác động của các nhân tố hành vi đối với rủi ro cho vay tín dụng vi mô tại vùng ĐBSCL bằng phương pháp thí nghiệm kinh tế hiện trường. Kết quả thực nghiệm khẳng định người tìm kiếm rủi ro ít có nguy cơ nợ xấu hơn người e ngại rủi ro, đồng thời vốn xã hội thể hiện qua tính tương trợ cộng đồng và lòng tin đóng vai trò then chốt giúp giảm thiểu nợ xấu. Công trình cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị, gợi mở các hàm ý chính sách thiết thực cho các tổ chức tài chính vi mô và cơ quan quản lý trong việc thiết kế sản phẩm tín dụng và nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo.