Luận án tiến sĩ về sở thích rủi ro và tín dụng vi mô tại vùng đồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sở thích rủi ro vốn xã hội và rủi ro cho vay tín dụng vi mô nghiên cứu thí nghiệm tại vùng đồng, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

324
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

2. CHƯƠNG 2: SỞ THÍCH RỦI RO, VỐN XÃ HỘI VÀ RỦI RO CHO VAY TÍN DỤNG VI MÔ

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN RỦI RO TDVM – CÁC KHẢO SÁT VÀ THÍ NGHIỆM KINH TẾ TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích sở thích rủi rotín dụng vi mô tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Kinh tế học hành vi đã chứng minh rằng các yếu tố xã hội và tâm lý có ảnh hưởng lớn đến quyết định tài chính của cá nhân. Trong bối cảnh Việt Nam, tín dụng vi mô đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc giảm nghèo và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc hiểu rõ về sở thích rủi ro của người vay là rất cần thiết để cải thiện hiệu quả cho vay và giảm thiểu rủi ro nợ xấu. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro trong hoạt động cho vay tín dụng vi mô.

1.1. Vấn đề nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sở thích rủi rotín dụng vi mô trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu sẽ xem xét các yếu tố như hành vi tài chính, vốn xã hội, và các đặc điểm nhân khẩu học của người vay. Mục tiêu là tìm hiểu cách mà những yếu tố này tác động đến quyết định vay vốn và khả năng trả nợ của người vay. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các tổ chức tín dụng vi mô có những chính sách cho vay phù hợp hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro nợ xấu.

II. Sở thích rủi ro và tín dụng vi mô

Chương này sẽ phân tích sâu về sở thích rủi ro trong bối cảnh tín dụng vi mô. Theo lý thuyết triển vọng, người vay có thể có những phản ứng khác nhau đối với rủi ro tùy thuộc vào mức độ sở thích rủi ro của họ. Những người có sở thích rủi ro cao thường có xu hướng chấp nhận rủi ro lớn hơn trong các quyết định tài chính, trong khi những người e ngại rủi ro có thể tránh xa các khoản vay có rủi ro cao. Nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng vốn xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành sở thích rủi ro. Những cộng đồng có tính tương trợ cao thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn, do sự hỗ trợ lẫn nhau trong việc trả nợ.

2.1. Vai trò của vốn xã hội

Vốn xã hội được định nghĩa là mạng lưới quan hệ và sự tin tưởng giữa các cá nhân trong cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy rằng vốn xã hội có tác động tích cực đến tín dụng vi mô. Những người vay có mối quan hệ tốt với cộng đồng thường dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn và có khả năng trả nợ cao hơn. Sự tương trợ trong cộng đồng không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro cho vay mà còn tạo ra một môi trường hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà nhiều người dân phụ thuộc vào tín dụng vi mô để cải thiện đời sống.

III. Phân tích tác động của các yếu tố đến rủi ro tín dụng vi mô

Chương này sẽ trình bày kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong tín dụng vi mô. Các khảo sát và thí nghiệm kinh tế đã được thực hiện để thu thập dữ liệu từ người vay tại đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy rằng sở thích rủi rovốn xã hội đều có tác động đáng kể đến khả năng trả nợ của người vay. Những người có sở thích rủi ro cao thường ít có khả năng bị nợ xấu hơn, trong khi những người e ngại rủi ro có xu hướng gặp khó khăn trong việc trả nợ. Điều này cho thấy rằng việc hiểu rõ sở thích rủi ro của người vay là rất quan trọng trong việc quản lý rủi ro cho vay.

3.1. Kết quả hồi quy về tác động của sở thích rủi ro

Kết quả hồi quy cho thấy rằng mức độ sở thích rủi ro có mối quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ xấu. Cụ thể, những người có sở thích rủi ro cao có khả năng trả nợ tốt hơn, trong khi những người e ngại rủi ro có tỷ lệ nợ xấu cao hơn. Điều này cho thấy rằng các tổ chức tín dụng vi mô cần xem xét sở thích rủi ro của người vay khi đưa ra quyết định cho vay. Việc áp dụng các phương pháp đánh giá rủi ro dựa trên sở thích rủi ro có thể giúp giảm thiểu rủi ro cho vay và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này.

IV. Hàm ý chính sách

Chương cuối cùng sẽ đưa ra các hàm ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu. Các tổ chức tín dụng vi mô cần phát triển các chương trình đào tạo và tư vấn tài chính cho người vay, giúp họ hiểu rõ hơn về sở thích rủi ro và cách quản lý tài chính cá nhân. Chính phủ cũng cần có các chính sách hỗ trợ để tăng cường vốn xã hội trong cộng đồng, từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi cho tín dụng vi mô phát triển. Việc cải thiện chính sách cho vay và quản lý rủi ro sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng vi mô và giảm thiểu rủi ro nợ xấu.

4.1. Đề xuất chính sách cho các tổ chức tín dụng vi mô

Các tổ chức tín dụng vi mô nên xem xét việc áp dụng các mô hình cho vay linh hoạt hơn, phù hợp với sở thích rủi ro của từng nhóm người vay. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn tạo điều kiện cho người vay tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn. Đồng thời, các tổ chức cũng cần tăng cường các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, nhằm xây dựng vốn xã hội và tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc cho người vay. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho vay và giảm thiểu tình trạng nợ xấu trong tín dụng vi mô.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1. Trên thế giới, kinh tế học hành vi đã và đang phát triển với tốc độ nhanh và đã chứng minh được sự tác động tích cực của nó đối với nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong một nền kinh tế bao gồm cả lĩnh vực kinh tế cũng như lĩnh vực xã hội. Nhiều nhà khoa học đã mô phỏng các thí nghiệm về hành vi của con người để vận dụng các kết quả nghiên cứu đó vào việc ra quyết định, quyết định các vấn đề kinh tế-xã hội trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội kể cả của một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một tổ chức. Quyết định về một vấn đề nào đó của một cá nhân có thể ảnh hưởng không những đến bản thân cá nhân họ mà còn có thể ảnh hưởng đến cả một tổ chức hoặc thậm chí cả một xã hội.

Trong lĩnh vực ngân hàng, TCVM đã hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới và thông qua các nghiên cứu của các nhà kinh tế đã cho thấy và chứng minh được vai trò, tác động của nó đối với phát triển kinh tế nói chung và cho công cuộc xóa đói giảm nghèo nói riêng. TCVM tại Việt Nam mới chỉ phát triển gần đây, hoạt động của các tổ chức TCVM chính thức còn rất hạn chế so với nhu cầu rất lớn của nền kinh tế. Thống kê của NHNN Việt Nam đến cuối năm 2018 có 16 công ty tài chính với 6 công ty là công ty con của các ngân hàng lớn gồm: Fccom của ngân hàng Hàng hải, Fe Credit của VP Bank, HD Saison của HD Bank, SHB Finance của SHB, MCredit của MB Bank và Tài chính Bưu điện của SEA Bank. Hiện nay, sự ra đời của các công ty tài chính đang bùng nổ tại Việt Nam nhằm khai thác mảng cho vay tiêu dùng hiện còn tiềm năng rất lớn và đang còn chưa đáp ứng được theo nhu cầu của thị trường tại Việt Nam.

Theo báo cáo của NHNN Việt Nam1, tính đến cuối năm 2018 tổng dư nợ toàn nền kinh tế khoảng 7,2 triệu tỷ đồng, trong đó tổng dư nợ tín dụng phi chính thức chiếm khoảng hơn 20%. Tuy nhiên, do nguồn cung vốn tín dụng chính thức không đáp ứng được nhu cầu của người dân, đặc biệt là những món vay nhỏ, lẻ hoặc người vay không có tài sản đảm bảo để thế chấp cho các tổ chức cho vay chính thức, dẫn đến tình trạng bùng 1 https://www.vn/ luan an 2 phát "tín dụng đen" tại khắp nơi dưới hình thức các công ty tài chính cho vay tiêu dùng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Do vậy, nghiên cứu vấn đề rủi ro trong hoạt động TDVM, tác động của rủi ro trong TDVM đối với hoạt động TCVM là vấn đề cấp thiết và quan trọng đối với Việt Nam hiện nay. Qua đó, giúp cho Chính phủ, NHNN, các TCTD cũng như các tổ chức TCVM có những thể chế, chính sách, quy định hoặc sản phẩm phù hợp để đáp ứng nhu cầu của người dân cũng như hạn chế phần nào vấn nạn "tín dụng đen", tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được nguồn vốn vay chính thức phù hợp với điều kiện thực tế của họ.

Đói nghèo luôn là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới. Có giảm thiểu được nghèo đói, ổn định cuộc sống cho người dân thì mới có thể phát triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững. TCVM đã được phát triển từ lâu trên thế giới, và cho đến nay, nó đã khẳng định được vai trò và tầm quan trọng trong việc giảm thiểu đói nghèo và giúp cải thiện đời sống trong cộng đồng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù ra đời sau, nhưng các tổ chức TCVM ở Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ trong việc cải thiện đời sống cho những người dân nghèo, hoàn cảnh khó khăn và không có điều kiện để vay vốn cho mục đích sản xuất, tiêu dùng.

từ các nguồn vốn vay chính thức. Trong Luật các TCTD năm 2010, tổ chức TCVM được thừa nhận tại Việt Nam như là một loại hình TCTD chính thức. Đến nay, các phương thức và mô hình hoạt động của các tổ chức TCVM ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, vẫn còn rất nhiều vấn đề vướng mắc nảy sinh mà các cơ quan Nhà nước có liên quan cần xem xét, đánh giá và điều chỉnh để có thể giúp cho hoạt động của các tổ chức TCVM đạt hiệu quả cao nhất.

Nhà nước cần quan tâm chú trọng hơn nữa đến mục tiêu hỗ trợ về chính sách, thể chế hoặc hỗ trợ huy động thêm nhiều nguồn vốn từ xã hội để gia tăng quy mô vốn của các tổ chức TCVM, nhằm giúp họ có điều kiện cung cấp nguồn vốn vay cải thiện cuộc sống của người nghèo ngày càng tốt hơn. luan an 3 Cho đến nay, ngoài các tổ chức TCTD gồm Agribank, NHCSXH và các TCTD khác có cung cấp dịch vụ cho vay TDVM, các tổ chức TCVM thuộc khu vực bán chính thức và phi chính thức hoạt động khá tốt, tiếp tục đóng góp một phần nguồn vốn vay TDVM hữu hiệu, hỗ trợ và giúp đỡ cho người nghèo tại các vùng nông thôn sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn giảm thiểu đói nghèo và ổn định cuộc sống. Ngoài ra, nhiều chương trình của các tổ chức NGO và các tổ chức xã hội cũng có những đóng góp tích cực cho người nghèo ở những vùng nông thôn sâu, vùng xa và đặc biệt là cho phụ nữ nghèo. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Hải (2012), Phạm Bích Liên (2016), Nguyễn Quỳnh Phương (2017) đã khái quát về việc phát triển TCVM tại Việt Nam với đối tượng là các tổ chức TCVM chính thức và bán chính thức tại Việt Nam.

Thông qua đó, các tác giả đề ra các giải pháp, khuyến nghị chính sách để phát triển hoạt động của các tổ chức TCVM tại Việt Nam. Sở thích rủi ro và rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM. Thuật ngữ TDVM1 trong luận án này được hiểu là những món vay nhỏ, lẻ của các TCTD và các tổ. Căn cứ theo thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam thì mức cho vay tối đa với một khách hàng của các tổ chức TCVM, các công ty Tài chính là 100 triệu đồng.

Mặt khác, TDVM là một trong những dịch vụ của các tổ chức TCVM (tín dụng vi mô, tiết kiệm vi mô, bảo hiểm, thanh toán) bao gồm ba sản phẩm dịch vụ tín dụng là cho vay cá thể, cho vay theo nhóm tương hỗ và cho vay gián tiếp theo nhóm tương hỗ qua trung gian thứ ba (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Như vậy trong luận án này có thể hiểu TDVM là một sản phẩm cho vay trong hoạt động tín dụng của các TCTD và là một trong những dịch vụ chính của các tổ chức TCVM tại Việt Nam. Trong một nền kinh tế, TDVM là hoạt động tín dụng trực tiếp đối với khách hàng với những món vay nhỏ lẻ, do vậy rủi ro tín dụng và vấn đề quản lý rủi ro 1 Khái. Việt Nam (https://www.vn/webcenter/portal/vi/menu/hdk/tcvm/).

luan an 4 TDVM là một thách thức lớn đối với các TCTD có hoạt động TDVM, các tổ chức TCVM cũng như với xã hội. Người ta có thể dựa vào thái độ và hành vi của một người đối với vấn đề rủi ro để dự đoán các hành vi kinh tế, việc ra quyết định của họ và nó có ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi, hoạt động của người vay vốn đến rủi ro như đầu tư, sản xuất, tiêu dùng và hành vi đối với rủi ro. Đã có nhiều nghiên cứu về TCVM và khung lý thuyết trên thế giới có mức độ ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định trong hoàn cảnh rủi ro đó là lý thuyết thỏa dụng kỳ vọng (expected utility theory) được Neumann và Morgenstern (1944) đưa ra. Lý thuyết triển vọng (prospect theory) của Tversky và Kahnerman (1979) đã chỉ ra rằng con người thường tìm rủi ro về phía mất và né tránh rủi ro về phía được.

Từ lý thuyết này, Tversky và Kahnerman đã đưa ra lý thuyết triển vọng, với định nghĩa hàm giá trị (value function) của lý thuyết triển vọng xác định bởi điểm lời và điểm lỗ so với điểm tham chiếu. Nghiên cứu của Wen và cộng sự (2014) kết luận rằng sở thích rủi ro có liên quan đến thái độ đối với rủi ro trong việc ra quyết định của các nhà đầu tư. Như vậy, có thể thấy rằng sở thích rủi ro là việc hướng tới các quyết định rủi ro của các cá nhân, các nhà đầu tư đối với tài sản nhằm mục đích thu được mức sinh lợi cao nhất. Ackert và Deaves (2013) cho rằng việc thực hiện các quyết định tập trung chủ yếu vào cái được và cái mất.

Handa (1971) cho rằng sở thích rủi ro là việc lựa chọn giữa một tài sản có rủi ro cao so với tài sản có rủi ro thấp để nhà đầu tư có thể nhận được một tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Việc ra quyết định gặp rủi ro là vấn đề phổ biến và mức độ mà mọi người sẵn sàng chấp nhận nguy cơ tạo thành sở thích rủi ro. Để phân tích kinh tế hoặc đưa ra các quy định chính sách thì việc đánh giá và đo lường sở thích rủi ro của các cá nhân là đặc biệt quan trọng. Nghiên cứu của Charness và cộng sự (2013), Eckel, Dave và cộng sự (2010) đúc kết rằng kinh tế học có thể xem xét, tập trung vào các phương pháp gợi mở khi phân tích điều tra sở thích rủi ro và sở thích được gợi ra có thể bị tác động và ảnh hưởng bởi thước đo được sử dụng.

luan an 5 Theo Stiglitz và Weiss (1981) thì người vay vốn có động cơ và khuynh hướng đầu tư nhiều hơn vào các dự án có nhiều rủi ro. Có nghĩa là người vay vốn có nợ xấu sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao cho những món vay của mình (chấp nhận rủi ro cao). Thí nghiệm của Zeballos và cộng sự (2014) tại Bolivia cho thấy những người vay không có nợ xấu tìm kiếm rủi ro nhiều hơn là người vay có nợ xấu. Kết quả này trái ngược với giả thuyết của Stiglitz và Weiss (1981): Những người đầu tư vào những dự án kém rủi ro hơn là những người có nợ xấu.

Người nghèo không trả được nợ vay của họ bởi vì họ không dám chấp nhận rủi ro do đó làm cho khoản vay không có hiệu quả và kết quả là họ không thể hoàn trả lại khoản vay của họ (Zeballos và cộng sự, 2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về sở thích rủi ro và tín dụng vi mô tại vùng đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Vũ Đức Cần, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trương Quang Thông và TS. Nguyễn Đức Quang, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro trong cho vay tín dụng vi mô, đặc biệt là trong bối cảnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tài chính của người dân trong khu vực mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc phát triển tín dụng vi mô, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý rủi ro trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bạn có thể tham khảo bài viết "Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank", nơi phân tích các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết "Phân tích hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thống Nhất, Đồng Nai" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về hiệu quả cho vay trong lĩnh vực ngân hàng nông nghiệp, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến tín dụng vi mô. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu về rủi ro biến động giá và hiệu ứng lây lan trên thị trường xăng dầu Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố rủi ro trong lĩnh vực tài chính, từ đó có thể áp dụng vào các nghiên cứu về tín dụng vi mô và sở thích rủi ro.