CHƯƠNG I CO SO LY LUAN VE TANG TRUONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. NHUNG VAN DE CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA. Khái niệm DNNVV Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay được hiễu là một tô chức kinh tế có tên riêng, có tải sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của minh. Ngày 20/06/1998, Chính phủ có công văn 681/CP-KTN quy định tiêu chí xác định DNNVV: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động trung bình hàng năm dưới 200 người".
Năm 2001 căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế cúa đất nước cũng với yêu cầu bức thiết trong vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp, ngảy 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Tại điều 3 của Nghị định đã định nghĩa: "2oanli nghiệp nhỏ và vừa là đơn vị kinh doanh độc lập theo luật hiện hành, cỏ số vốn đăng ký: không quá 10 tỷ đồng và sứ dụng lao động trung bình hàng năm không quá 300) người". Theo tử điển Bách khoa toản thư: '*oanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu ". DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh được đăng ký theo loại hình doanh nghiệp vỉ mục đích lợi nhuận, có quy mô lớn hơn quy mô cá thể trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, số lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, ngày 30/6/2009, Chinh phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Ngày 11/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP về quy định chỉ tiết một số điều của luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vả vừa. Nghị định đã đưa ra một số định nghĩa chung về DNNVV. để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển và tăng trưởng tốt.
Luật số 59/2020/QH14 thay cho luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018. Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp, được chia thành ba cấp: cấp siêu nhỏ, cấp nhỏ và cấp vừa theo quy. mô, tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. ~ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tông doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. ~ Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, và không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tông doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, và không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. ~ Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp.
thủy sản, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, vả không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh. thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tông nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, và không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô và vốn số nhỏ do đó doanh thu và lợi nhuận không lớn va hau hết hoạt đông trong ngành sử dụng nhiều lao động.
Tiêu chí phân loại DNNVV theo điều 6 tại Nghị định số 39/2018/NĐ- CP năm 2018 của Chính phủ: ~ Theo số lao động và doanh thu Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV theo số lao động và doanh thu DN siêu nhỏ Đoanh nghiệp nhỏ — Doanh nghiệp vừa Số Doanh Số Doanh Số Doanh laođông thu laođộng thu laođộng thu (Người) (Tyđổng) (Người) (Tý đổng) (Người) (Tỷ đồng) Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp — <10 <3 <Il00 <š50 «<200 <200 và xây dựng Thương mại và dịhvu 1D <10 <ã0 < 100 <100 < 300 Nguôn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP năm 2018 của Chính phi ~ Theo số lao động và nguồn vốn Bảng 1. Tiêu chí phân loại DNNVYV theo số lao động và nguồn von Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp siêu nhỏ. via Số Nguồn Số Nguồn Số Nguồn. laodéng vốn laođổng vốn laođông vốn (Người) (Ty ding) (Người) (Tÿđổng) (Người) (Tỳ đồng) Nông, lâm nghiệp vả thủy sản; Công nghiệp <10 <3 <100 <20 <200 <100 và xây dựng.
Thương mại vả dịch vụ < 10 <3 <50 <§0 «<l00 «<100 Nguôn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP năm 20018 của Chỉnh phú 1. Đặc điểm của DNNVV. Dễ khởi nghiệp DNNVV là loại hình cần vốn ít, quy mỗ nhỏ, chỉ phí quản lý và đảo tạo không lớn, lao động không đòi hỏi chuyên môn cao; với đặc tinh chu ky tuần hoàn sản phâm ngắn nên các doanh nghiệp có thê sử dụng vốn tự cỏ hoặc vay mượn bạn bè, các tô chức tín dụng. Hơn nữa, hiệu quả kinh tế theo quy mô làm cho doanh nghiệp giảm chỉ phi sản xuất.
Các DNNVV không thể cạnh tranh dựa trên chỉ phí mà cần tập trung vào chiến lượt khác biệt khai thác chênh lệch giá thông qua giám chỉ phí vận chuyển vả tạo sự thuận lợi trong bản hàng hơn là cạnh tranh trực diện với các doanh nghiệp lớn, quy trình tổ chức quản lý trong các DNNVV đơn gián. gọn nhẹ, khi hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thi nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bản bạc, thống nhất hành động. Vì vay, DNNVV dé dang khởi sự và hoạt đông nhạy bén theo cơ chế thị trưởng. 10 Hiện nay ở Việt Nam, một chủ thể có ý tưởng SXKD cộng với một số it vốn, một số lao động nhất định và mặt bằng không lớn là có thể đăng ký thành lập được DNNVV.
Các DNNEV có tính linh hoạt, năng động cao và đễ thích ứng với các biển động của thị trưởng. Do quy mô không lớn dẫn đến bộ máy tô chức quản lý gọn nhẹ đó là lợi thể của các DNNVV mà các doanh nghiệp lớn không có được, nên DNNVV rất năng động và dễ thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường trong nước và ngoài nước [12]. Ngoài ra, DNNVV còn năng động thích ứng nhanh với những biển động về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước, Trong môi trưởng kinh doanh thương mại, nhờ tinh linh hoạt, dé tham gia thị trường, cũng như dễ rút lui khỏi thị trường khi điều kiện kinh doanh không thuận lợi, nên DNNVV dễ dàng tìm kiểm lợi nhuận từ những "ngách” của thị trưởng, đặc biệt là trong giai đoạn chuyên đổi số của nền kinh tế. DNNVV có lợi thể tương đối tốt như lãi suất đầu tư thắp nhờ phát hưy các nguôn lực đầu vào tại chỗ như lao động, tài nguyên hay nguồn vốn, khai thắc và phát huy các ngành nghề truyền thẳng tại địa phương.
Thực tế ở Việt Nam đã có rất nhiều DN từng bước trưởng thành, lớn mạnh nhở khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống trong từng hộ gia đình, từng đònghọ. làng nghề của nông thôn Việt Nam. DNNVV cé mét sé loi thể trong việc theo sát như cầu thị trưởng và thị hiểu của người tiêu dùng, qua đó sáng tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mới, đáp ứng tốt hơn nhu câu tiêu dùng của khách hàng. 1 Có thể nói DNNVV có một số lợi thể nhất định trong việc sản xuất các loại sản phẩm và dịch vụ mới và làm xuất hiện nhiều nhu cầu tiêu dùng mới từ phía người tiêu ding.
Lĩnh vực hoạt động của DNNVV được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành. Từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nói chung có xu hướng chiểm ưu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp nảy có những đặc điểm sau: - Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNNVV thưởng tập trung. vào những ngành nghề kinh doanh chính.
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp thường là những nghiệp vụ cơ bản, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu. - Tổ chức sản xuất kinh doanh, tô chức bộ máy quản lý của các DNNVV thường linh hoạt, gọn nhẹ, đơn giản. ~ Quy mô hoạt động kinh doanh, quy mô vốn đầu tư vào DN ban dau không lớn. ~ Cơ sở vật chất kỹ thuật thường yếu kém, trình độ công nghệ thường đơn gián.
Các DNNVV hoạt động trong nhiều lĩnh vực, trong đỏ có lĩnh vực xây lắp. Các DNNVV cũng có những đặc điểm chung của DNNVV. Tuy nhiên cũng có những đặc trưng riêng: - Các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa thường tô chức các tổ (đội) thí công trực thuộc. Tuy nhiên, các tô (đội) hâu hết đều hạch toán phụ thuộc với các doanh nghiệp.
- Vốn đầu tư thực hiện các công trình xây lấp thi công trong các DNNVV thường không lớn, thời gian thi công không dài do hạn chế về nguồn lực. ~ Cơ sở vật chất kỳ thuật vả trình độ công nghệ của các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và vừa còn hạn chế. Các doanh nghiệp này phần lớn phải thuê ngoài để thi công các công trình. Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế So với các doanh nghiệp lớn, DNNVV không có lợi thế về mặt kinh tế nhưng có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và ôn định kinh tế, chính.