Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay. Định hướng và giải pháp cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
-5- z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT 1. Khái niệm, bản chất cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nƣớc. Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hóa (với nghĩa là chuyển thành công ty cổ phần(CTCP)) có thể hiểu là việc chuyển bất cứ loại hình doanh nghiệp nào thành CTCP, từ doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đến DNNN hay hợp tác xã, là một hình thức chuyển đổi sở hữu kéo theo việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm này chỉ được hiểu là việc chuyển DNNN thuộc sở hữu Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ban đổi mới, phát triển DNNN cho rằng: “Cổ phần hóa là quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần” [31, tr 32]. Quá trình này được tiến hành bằng nhiều cách như: Giữ nguyên sở hữu Nhà nước gọi thêm vốn góp từ các thành phần kinh tế khác nhau để thành lập công ty cổ phần, tách một bộ phận DNNN đủ điều kiện cổ phần hóa và cuối cùng là bán một phần hay toàn bộ doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước dưới hình thức cổ phần cho các cổ đông. Về mặt pháp lý, CPH DNNN là quá trình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ DNNN sang công ty cổ phần.
Điều đó có nghĩa là một DNNN sau khi đã hoàn tất qui trình CPH thì doanh nghiệp đó sẽ không còn tồn tại dưới loại hình DNNN mà chuyển sang loại hình công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty (nay là Luật Doanh nghiệp). Khi đã chuyển đổi hình thức hoạt động sang CTCP thì địa vị pháp lý của DN đó phải hoàn toàn tuân theo qui định của pháp luật về công ty cổ phần. Có nghĩa là toàn bộ các vấn đề liên -6- z quan đến hoạt động của doanh nghiệp từ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý về thành lập, giải thể, phá sản đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, đặc biệt là những qui định về công ty cổ phần. Nếu phân định theo tiêu chí sở hữu thì đây là biện pháp chuyển DNNN từ sở hữu Nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần.
Có tác giả lại quan niệm: Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần, tức là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu [32, 33-34]. Trước khi CPH, DNNN có quyền độc lập, tự chủ về vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. Khi tiến hành CPH, sau khi đã xác định giá trị DN (xác định phần sẽ chuyển đổi sở hữu, xác định số lượng cổ phiếu phát hành) Nhà nước bán cổ phiếu cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế: “Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá” (Khoản I, Điều 3, Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998). Những người mua cổ phiếu có quyền sở hữu một phần tài sản của công ty.
Ở nước ta CPH không được xét dưới khía cạnh là một hình thức tư nhân hóa, nó chỉ được coi là một giải pháp trong quá trình đổi mới cải cách DNNN. CPH là biện pháp duy trì sở hữu Nhà nước đối với tư liệu sản xuất dưới hình thức công ty cổ phần. Khi tiến hành CPH, Nhà nước không tiến hành chuyển tất cả các DNNN đang tồn tại thành CTCP thuộc sở hữu nhiều thành phần mà chỉ chuyển một bộ phận DNNN không giữ vị trí then chốt, trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. “Tựa theo vị trí, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước xác định tỷ lệ cổ phần cần nắm giữ.
-7- z Vì vậy, từ những khái niệm trên có thể khái quát và đưa ra khái niệm đầy đủ về cổ phần hóa DNNN như sau: Cổ phần hóa các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của quá trình đổi mới các DNNN, là quá trình chuyển các DNNN thành công ty cổ phần. Đó là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu Nhà nước sang sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó tồn tại một phần sở hữu của Nhà nước; là quá trình huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN; tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. Tất cả nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giảm nhẹ gánh nặng của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Chương trình CPH bắt đầu được Việt Nam chính thức thực hiện từ năm 1992, được đẩy mạnh từ năm 1996, cơ bản hoàn thành năm 2010 và dự kiến hoàn tất năm 2015 theo như mục tiêu đề ra khi gia nhập WTO.
Bản chất và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước CPH DNNN là sau khi xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thị trường, giá trị đó được chia ra thành các cổ phần có giá trị bằng nhau. Số cổ phần đó được đem bán cho các đối tượng có nhu cầu mua: các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các công ty tài chính, các quỹ đầu tư. và người dân. Nhà nước với tư cách là người bán có thể giữ lại một số cổ phần trong tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Sau khi bán xong, những người mua cổ phần, những người chủ mới của doanh nghiệp họp lại và thông qua Điều lệ của công ty, bầu Hội đồng quản trị, quyết định chiến lược và các phương án, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, quá trình CPH DNNN ở nước ta thực chất là quá trình chuyển đổi sở hữu một phần hoặc toàn bộ DNNN cho các thành phần kinh tế khác và các cá nhân đầu tư. Xét về mặt bản chất, CPH DNNN chính là phương thức -8- z thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nước trong DN thành CTCP với nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hình DN phù hợp nền kinh tế thị trường, đáp ứng với yêu cầu của kinh doanh hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay để hội nhập với nền kinh tế thế giới có hiệu quả đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới và phát triển DNNN làm cho DNNN ngày càng lớn mạnh, đủ sức thực hiện tốt vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân.
Một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới, trong giai đoạn hội nhập KTQT này là CPH DNNN. Việc tiến hành thành công CPH DNNN sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cải cách DNNN nhằm làm cho các DN này hoạt động ngày càng có hiệu quả, từng bước đưa các DNNN này hòa nhập, thích ứng với các qui luật của kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các DN thuộc thành phần kinh tế khác. Vì vậy, CPH giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và có ý nghĩa to lớn trong việc sắp xếp lại DNNN, điều đó được thể hiện trên các mặt sau: - Cổ phần hóa nhằm chuyển đổi một phần sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Do đó, việc tiến hành quá trình này sẽ tạo điều kiện thu hút được nguồn vốn dồi dào trong dân cư, nguồn vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp, của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư phát triển doanh nghiệp, phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, tạo sự cân bằng giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, nâng cao tính cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
- Tiến hành CPH DNNN sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các DNNN sau khi -9- z CPH có khả năng cạnh tranh với các DN thuộc các thành phần kinh tế khác. Quá trình CPH tạo cho mọi người lao động được thực sự làm chủ DN, thông qua việc mua cổ phần của doanh nghiệp, đồng thời cũng xác định được người chủ của doanh nghiệp sau khi CPH, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả doanh nghiệp. - Cổ phần hoá sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thành lập thị trường chứng khoán. Trong quá trình CPH, DNNN sẽ phải phát hành thêm nhiều cổ phiếu để huy động vốn.
Vì vậy, để cho các cổ phiếu được mua bán, lưu chuyển thuận tiện trên thị trường cần phải có một thị trường chứng khoán phát triển, một thị trường chứng khoán ổn định, lành mạnh và công khai. Việc một thị trường chứng khoán đi vào hoạt động bền vững sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy quá trình CPH, thu hút được nguồn vốn trong và ngoài nước. Phân biệt cổ phần hóa và tư nhân hóa Tư nhân hóa theo nghĩa rộng được hiểu theo mức độ điều tiết nền kinh tế. Dưới góc độ này cần xem thị trường như một sân chơi trong đó mỗi nhà đầu tư chiếm lĩnh một khoản nhất định và chi phối thị trường theo tiềm lực thực chất của mình; Nhà nước lúc này với tư cách là nhà đầu tư khi đó cũng bình đẳng và tuân theo quy luật này.
Tư nhân hoá sẽ biểu hiện theo từng mức độ: Tăng cường khả năng tự chủ về vốn và tổ chức hoạt động của DNNN; Chuyển các ngành sản xuất trước kia do Nhà nước nắm giữ sang khu vực kinh tế tư nhân; Giảm sự can thiệp kinh tế bằng cách nới lỏng hoặc bỏ bớt các quy định của Nhà nước can thiệp vào thị trường. Quá trình này đồng nghĩa với sự biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường.