Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế học (chuyên hướng Kinh tế quốc tế và Kinh tế phát triển) mang tên "Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam" tiếp cận vấn đề theo phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích định tính thể chế với mô hình định lượng kinh tế lượng.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành và qua nhiều lần sửa đổi, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng trưởng liên tục. Tính đến ngày 20/12/2017, cả nước có 24.748 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 318,72 tỷ USD và vốn thực hiện lũy kế đạt 172,35 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký. FDI đóng vai trò đối với tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm. Tuy nhiên, giai đoạn 1991–2017 cũng chứng kiến nhiều thời kỳ biến động kinh tế vĩ mô tại Việt Nam (các giai đoạn 1991–1994, 1995–1999 và 2008–2013). Các giai đoạn này bộc lộ nhiều bất ổn như lạm phát hai con số, tỷ giá biến động, thâm hụt ngân sách kéo dài, hiện tượng chuyển giá và chênh lệch lớn giữa vốn đăng ký với vốn thực hiện. Trong khi phần lớn các công trình trước đây tập trung nghiên cứu tác động của biến động kinh tế vĩ mô tới việc thu hút FDI hoặc chỉ đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng GDP riêng lẻ, chiều tác động ngược lại từ FDI tới tổng thể các biến số vĩ mô và chỉ số bất ổn tổng hợp chưa được phân tích toàn diện.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Hệ thống hóa lý luận về FDI, biến động kinh tế vĩ mô và tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút, sử dụng FDI, tình hình biến động kinh tế vĩ mô và tác động của FDI đến biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam từ 1991 - 2017.
- Đề xuất giải pháp thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả FDI, tận dụng tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam thời gian tới.
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
(1) Lý thuyết về tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế là gì?
(2) Có quan hệ tác động của FDI tới các chỉ số thể hiện biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017 không?, nếu có thì tác động như thế nào?
(3) Chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả FDI của Việt Nam nhằm hạn chế biến động tiêu cực của kinh tế vĩ mô trong thời gian tới như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tình hình thu hút, sử dụng FDI và biến động kinh tế vĩ mô Việt Nam thông qua cả các chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ (GDP, lạm phát, thâm hụt ngân sách, biến động tỷ giá hối đoái) và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII do Ismihan và cộng sự đề xuất năm 2002).
- Phạm vi không gian và thời gian: Cấp quốc gia của Việt Nam giai đoạn 1991–2017 với số liệu chuỗi thời gian theo quý từ quý 4/1991 đến quý 4/2017. Mốc năm 1991 được lựa chọn do đây là thời điểm vốn FDI đăng ký bắt đầu được giải ngân thực tế; mốc năm 2017 là thời điểm tác giả thu thập đầy đủ hệ thống dữ liệu thống kê chính thức.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về các chỉ số thể hiện biến động kinh tế vĩ mô:
- Biến số đơn lẻ: Tăng trưởng GDP được Ramey và Ramey (1995), Acemoglu và cộng sự (2003) đo lường bằng độ lệch chuẩn tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người; Case và Fair (2006), Van den Bergh (2008), Van der Ploeg và Poelhekke (2009), Di Giovanni và Levchenko (2010) dùng GDP và xuất khẩu phản ánh môi trường vĩ mô. Lạm phát được Fischer (1991), Ramey và Ramey (1994), Drugeon và Wignolle (1996), Azam (1997, 1999, 2001), Yiheyis (2000), Caballero (2007), Iqbal và Nawaz (2010), Shahbaz (2013), Olaniyan (2000), Beaudry và cộng sự (2001), Somoye và Ilo (2009), Frimpong và Marbuah (2010) sử dụng làm tín hiệu bất ổn vĩ mô và suy giảm tích tụ vốn. Thâm hụt ngân sách được Fischer (1993) coi là dấu hiệu suy giảm kiểm soát vĩ mô của chính phủ. Tỷ giá hối đoái được Campa và Goldberg (1995), Azid và cộng sự (2005), Obstfeld và Rogoff (1998) đánh giá qua tác động làm tăng chi phí và rủi ro đầu tư.
- Quan sát đồng thời nhóm chỉ số: Fischer (1993), Bleaney (1996), Ismihan, Metin-Ozcan và Aysit (2002) kết hợp tỷ lệ lạm phát, thâm hụt ngân sách/GNP và nợ nước ngoài/GNP; Sameti và cộng sự (2012) quan sát GDP, lạm phát, thâm hụt vãng lai, dự trữ ngoại hối và ngân sách; Hausman và Gavin (1996) dùng GDP, đầu tư và năng suất lao động.
- Chỉ số vĩ mô tổng hợp: Chỉ số tổn thương tổng thể (VI) của IMF (2001); Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII) của Ismihan và cộng sự (2002); mô hình của Jaramillo và Sancak (2007); chỉ số tổng hợp của Ali (2015) tại Pakistan; phương pháp chỉ số tổn thương giảm tăng trưởng (GDVI) của IMF (2015).
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về tác động của FDI tới các biến số vĩ mô:
- Tác động tới GDP: Khung lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986, 1987), Lucas (1988, 1990), Mankiw (1992), Blomstrom và Kokko (1998), Chen (1979), Ahikpor (1990), Hill và John (1991), Todaro (1994), Liu, Burridge và Sinclair (2002), Wasantha Athukorala (2003), Jallab (2008). Thực nghiệm quốc tế ghi nhận đóng góp tích cực từ Borensztein và cộng sự (1998) tại 69 nước, Bengoa và Sanchez-Robles (2003) tại 18 nước Mỹ Latinh, Wang và Wong (2004), Wang (2003), Alfaro và cộng sự (2002), Hermes và Lensink (2003), Aghion và đồng sự (2006), Bende-Nabende và cộng sự (2001). Ngược lại, Carkovic và Levine (2002) tại 72 quốc gia nhận thấy FDI không tác động độc lập đến tăng trưởng kinh tế; Ekanayake và đồng sự không tìm thấy quan hệ rõ ràng giữa FDI và GDP. Tại Việt Nam, tác động tích cực tới GDP và xuất khẩu được khẳng định trong công trình của Hoàng Thị Kim Thanh (2003), Nguyễn Văn Tuấn (2005), Trần Minh Tuấn (2010), Nguyễn Phi Lan (2006), Lê Xuân Bá (2006), Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006).
- Tác động tới lạm phát: Balassa (1964) và Samuelson (1964) giải thích khác biệt năng suất tạo áp lực tiền lương lan tỏa; Combes, Kinda và Plane (2011) củng cố hiệu ứng giá cả thị trường; Takagi và Esaka (2001), Reinhart và đồng sự (2008) chỉ ra dòng vốn lớn làm tăng cung tiền; Kawai và Takagi (2009) phân tích dòng vốn đầu cơ làm nóng tín dụng; Josef Yap (2009) tại Philippines, Ira và Raymond (2009) tại Indonesia, Mejia (1999) chứng minh dòng vốn vượt khả năng hấp thụ gây quá nhiệt tổng cầu.
- Tác động tới tỷ giá: Salter (1959), Swan (1960), Corden (1960), Dornbusch (1974), Calvo, Leiderman và Reinhart (1993, 1996), El Badawi và Soto, Edwards (1998), Lartey (2008), Biswas và Dasgupta (2012) chứng minh FDI tác động làm tăng tỷ giá thực; Athukorala và Rajapatirana (2003) chỉ ra FDI làm giảm tỷ giá hối đoái. Ngược lại, Javorcik (2004), Bakardzhieva, Naceur và Kamar (2010), Jongwanich và Kohpaiboon (2013), Gaiah, Padhi và Ramanathan (2014) cho thấy FDI ít hoặc không ảnh hưởng đáng kể tới tỷ giá thực so với đầu tư gián tiếp. Tại Việt Nam, Menon (2009), Kenichi Ohno và Lê Quốc Hội (2008), Võ Trí Thành và Phạm Chí Quang (2009) cảnh báo nguy cơ tăng tỷ giá thực và rủi ro tài chính khi vốn vào ồ ạt.
- Tác động tới thâm hụt ngân sách: Rostow (1956, 1971) ghi nhận FDI bổ sung nguồn thu thuế nhưng chuyển giá và trốn thuế có thể gây thất thu ngân sách.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Về lý luận: Các nghiên cứu chưa đưa ra được hệ thống tổng thể các chỉ số đại diện cho biến động kinh tế vĩ mô và chưa khái quát hóa lý thuyết tác động của FDI tới tổng thể các biến số vĩ mô này.
- Về thực tiễn: Chưa có nghiên cứu định lượng nào đánh giá tác động của FDI tới chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII) dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian theo quý (từ quý 4/1991 đến quý 4/2017) tại Việt Nam.
- Về chính sách: Chưa có công trình nào dựa trên đánh giá toàn diện tác động của FDI tới các biến động vĩ mô để đề xuất hệ thống giải pháp chính sách điều tiết FDI phục vụ mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các khái niệm và khung phân tích sau:
- Khái niệm FDI: Sử dụng định nghĩa của OECD (1999) và IMF (2011), xác định FDI là hình thức đầu tư quốc tế thiết lập mối quan hệ dài hạn trong đó nhà đầu tư nắm giữ từ 10% vốn cổ phần hoặc quyền biểu quyết trở lên nhằm trực tiếp quản trị doanh nghiệp. Luận án kết hợp định nghĩa của Giáo trình Tài chính quốc tế (Học viện Tài chính) và Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam.
- Khung lý thuyết OLI của Dunning (1977, 1993): Phân tích động cơ FDI dựa trên ba nhóm lợi thế: Lợi thế sở hữu (Ownership - O), Lợi thế nội địa hóa (Internalisation - I) và Lợi thế vị trí (Location - L); cùng 3 động cơ: mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả sản xuất.
- Phân loại FDI: Căn cứ Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, gồm Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Mua cổ phần hoặc sáp nhập và mua lại (M&A), và các hợp đồng dự án BOT, BTO, BT.
- Khái niệm biến động kinh tế vĩ mô: Được định nghĩa là sự tăng trưởng hoặc sụt giảm thất thường của một nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định, phản ánh qua sự thay đổi của các chỉ số đơn lẻ (GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách) và chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp.
- Mô hình nhân tố tác động đến bất ổn vĩ mô: Căn cứ mô hình tổng hợp của Lê Thị Thùy Vân (2016), Mauro và Becker (2006), Fatas và Mihov (2006, 2007), biến động vĩ mô chịu tác động từ nhân tố bên trong (chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, sự phối hợp tài khóa - tiền tệ) và nhân tố bên ngoài (độ mở kinh tế, dòng vốn vào gồm FDI, cú sốc ngoại thương, khủng hoảng quốc tế).
- Phương pháp tính Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII) của Ismihan và cộng sự (2002): Dựa trên kỹ thuật xây dựng HDI của UNDP (1992), MII tích hợp 4 biến số: tỷ lệ lạm phát, thâm hụt ngân sách/GNP, nợ nước ngoài/GNP và biến động tỷ giá hối đoái.
- Bước 1: Chuẩn hóa chỉ số thành phần theo công thức:
$$I_t = \frac{X_t - X_{min}}{X_{max} - X_{min}}$$
với $0 \le I_t \le 1$.
- Bước 2: Tính MII theo trung bình giản đơn:
$$MII = \frac{I_{t1} + I_{t2} + I_{t3} + I_{t4}}{4}$$
Chỉ số nhận giá trị trong khoảng $[0, 1]$; giá trị tiến dần về 1 thể hiện bất ổn kinh tế vĩ mô càng lớn, tiến dần về 0 thể hiện tính ổn định cao.
Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu:
- Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, phân tích lịch sử, phân tích logic và so sánh thể chế nhằm đánh giá quá trình ban hành chính sách và thực trạng thu hút FDI.
- Phương pháp định lượng: Ứng dụng phần mềm Eviews 8.0 để ước lượng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian nhằm kiểm định tác động của FDI tới từng chỉ số vĩ mô đơn lẻ và tới chỉ số MII.
- Nguồn số liệu: Số liệu thứ cấp chính thức thu thập từ Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Trading Economics. Mẫu nghiên cứu gồm chuỗi dữ liệu theo quý từ quý 4/1991 đến quý 4/2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến biến động kinh tế vĩ mô
Chương này tập trung phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đo lường biến động kinh tế vĩ mô qua các chỉ số đơn lẻ (GDP, lạm phát, thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái) và các chỉ số tổng hợp (VI của IMF, MII của Ismihan, GDVI). Tác giả tổng thuật chi tiết các tranh luận thực nghiệm về tác động của dòng vốn FDI tới tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng cung tiền gây áp lực lạm phát, các tác động đa chiều lên tỷ giá hối đoái thực tại các nền kinh tế đang phát triển, và tác động cân đối ngân sách nhà nước giữa nguồn thu thuế với hiện tượng chuyển giá. Trên cơ sở đó, chương làm rõ 3 khoảng trống nghiên cứu và thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến biến động kinh tế vĩ mô
Chương 2 chuẩn hóa hệ thống khái niệm, đặc điểm, hình thức phân loại FDI và khung lý thuyết OLI của Dunning (1977, 1993). Tác giả xây dựng khung khái niệm về biến động kinh tế vĩ mô và mô hình hóa các nhân tố tác động (bên trong và bên ngoài). Luận án xây dựng các sơ đồ phân tích cơ chế truyền dẫn:
- Kênh tác động của FDI tới lạm phát: FDI vào lĩnh vực sản xuất có thể kiềm chế lạm phát nhờ giảm thâm hụt ngân sách (giảm sức ép cung tiền), nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm (giảm lạm phát cầu kéo thông qua cân bằng tổng cung - tổng cầu), và giảm giá thành (giảm lạm phát chi phí đẩy). Ngược lại, FDI công nghệ lạc hậu, chuyển giá, trốn thuế sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách, thất thoát vốn và đẩy lạm phát gia tăng.
- Kênh tác động của FDI tới tỷ giá hối đoái: Tác động truyền dẫn qua lạm phát, qua tài khoản vãng lai (thông qua cán cân thương mại xuất nhập khẩu), và qua tài khoản vốn (thông qua dòng vốn giải ngân thực tế).
- Khung đo lường chỉ số tổng hợp MII gồm 4 biến số vĩ mô.
Chương 3: Thực trạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2017
Chương 3 tổng hợp và đánh giá dữ liệu thực trạng phát triển FDI và biến động vĩ mô tại Việt Nam:
- Thực trạng thu hút FDI:
- Tính đến hết tháng 12/2017, Việt Nam cấp phép 24.748 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 318.722,62 triệu USD, bình quân 12,878 triệu USD/dự án.
- Diễn biến qua các thời kỳ: Giai đoạn 1988–1991 thu hút 363 dự án với 2.895 triệu USD đăng ký, giải ngân năm 1991 đạt 329 triệu USD; Giai đoạn 1992–1994 thu hút 842 dự án, đăng ký 9,434 tỷ USD, giải ngân 3,634 tỷ USD (đạt 38,52%); Giai đoạn 1995–2000 chịu ảnh hưởng khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, giải ngân năm 1999 và 2000 đạt lần lượt 2,335 và 2,414 tỷ USD; Giai đoạn 2001–2007 ghi nhận 6.466 dự án, vốn đăng ký 54,073 tỷ USD, vốn giải ngân đạt gần 50%; Giai đoạn 2008–2011 đạt đỉnh đăng ký kỷ lục năm 2008 (1.557 dự án, 71,726 tỷ USD đăng ký, giải ngân 11,5 tỷ USD), sau đó suy thoái toàn cầu khiến cả giai đoạn chỉ đạt 3.631 dự án, vốn đăng ký 58,591 tỷ USD và giải ngân 32 tỷ USD; Giai đoạn 2012–2017 phục hồi mạnh với 11.822 dự án, vốn đăng ký 143,638 tỷ USD, giải ngân đạt 81,874 tỷ USD (chiếm 57% vốn đăng ký).
| STT |
Hình thức đầu tư |
Số dự án |
Tỷ trọng dự án (%) |
Vốn đăng ký (Triệu USD) |
Tỷ trọng vốn (%) |
| 1 |
100% vốn nước ngoài |
20.719 |
83,72 |
231.204,38 |
72,54 |
| 2 |
Doanh nghiệp liên doanh |
3.775 |
15,25 |
68.306,03 |
21,43 |
| 3 |
Hợp đồng BOT, BT, BTO |
15 |
0,06 |
13.281,24 |
4,17 |
| 4 |
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) |
239 |
0,97 |
5.930,97 |
1,86 |
| Tổng |
|
24.748 |
100,00 |
318.722,62 |
100,00 |
- Cơ cấu đối tác: Nhà đầu tư đến từ 125 quốc gia và vùng lãnh thổ. Khu vực châu Á chiếm khoảng 75% tổng vốn. Dẫn đầu là Hàn Quốc (6.532 dự án, 57.659,54 triệu USD, chiếm 18,09% vốn), Nhật Bản (3.599 dự án, 49.463,37 triệu USD, chiếm 15,52%), Singapore (1.967 dự án, 42.230,00 triệu USD, chiếm 13,25%), Đài Loan (2.535 dự án, 30.911,72 triệu USD, chiếm 9,7%), British Virgin Islands (749 dự án, 22.576,85 triệu USD, chiếm 7,08%), Hồng Kông (1.275 dự án, 17.756,82 triệu USD, chiếm 5,57%), Trung Quốc (1.812 dự án, 12.084,31 triệu USD, chiếm 3,79%), Hoa Kỳ (857 dự án, 9.875,62 triệu USD, chiếm 3,1%).
- Địa bàn đầu tư: Tập trung chủ yếu tại các địa phương có hạ tầng phát triển: TP. Hồ Chí Minh (7.301 dự án, 44.008,95 triệu USD, chiếm 13,81% vốn), Bình Dương (3.295 dự án, 30.186,85 triệu USD, chiếm 9,47%), Đồng Nai (1.469 dự án, 27.342,26 triệu USD, chiếm 8,58%), Hà Nội (4.489 dự án, 27.288,70 triệu USD, chiếm 8,56%), Bà Rịa – Vũng Tàu (363 dự án, 26.867,46 triệu USD, chiếm 8,43%), Bắc Ninh (1.135 dự án, 16.080,92 triệu USD, chiếm 5,04%), Hải Phòng (604 dự án, 15.143,03 triệu USD, chiếm 4,75%).
- Lĩnh vực đầu tư: Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm quy mô áp đảo với 12.456 dự án, vốn đăng ký 186.127,82 triệu USD (chiếm 58,4% tổng vốn); Kinh doanh bất động sản, nhà hàng, khách sạn chiếm 1.274 dự án với 65.173,68 triệu USD (chiếm 20,45% tổng vốn); Sản xuất và phân phối điện, khí, nước chiếm 115 dự án với 20.820,87 triệu USD (chiếm 6,5%); Nông lâm thủy sản chỉ thu hút 511 dự án với 3.518,96 triệu USD (chiếm 1,1% tổng vốn).
- Thực trạng biến động kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 1991–2017:
- Tăng trưởng GDP: Năm 1995 đạt đỉnh 9,54%; sụt giảm xuống mức đáy 4,77% năm 1999 do khủng hoảng tài chính châu Á; phục hồi và duy trì mức cao giai đoạn 2001–2007 (đạt đỉnh 8,5%); suy giảm giai đoạn 2008–2011; tăng trưởng dần phục hồi giai đoạn 2012–2017 (năm 2016 đạt 6,43%, năm 2017 đạt 6,81%).
- Lạm phát: Năm 1991 ở mức 81,8%, giảm xuống 8,4% năm 1993 rồi tăng lên 16,9% năm 1995; giai đoạn 1996–1998 hạ xuống dưới 10% (năm 1996 là 5,6%, năm 1997 là 3,21%); năm 2000 lạm phát âm (-1,71%); giai đoạn 2007–2012 biến động mạnh với hai đỉnh lạm phát hai con số vào năm 2008 và 2011; giai đoạn 2012–2017 được kiểm soát ổn định ở mức thấp.
- Thâm hụt ngân sách: Kéo dài 27 năm liên tục từ 1990 đến 2017; giai đoạn 2000–2005 xoay quanh ngưỡng an toàn 5% GDP; giai đoạn 2007–2011 và 2012–2016 thâm hụt tăng cao do đầu tư công lớn và thất thu thuế từ chuyển giá.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD ghi nhận xu hướng điều chỉnh tăng qua các thời kỳ do sức ép lạm phát và thâm hụt thương mại.
Chương 4: Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô tại Việt Nam
Chương 4 thực hiện mô hình định lượng chuỗi thời gian trên phần mềm Eviews 8.0 với dữ liệu quý từ quý 4/1991 đến quý 4/2017. Tác giả tiến hành ước lượng thực nghiệm tác động của vốn FDI (vốn đăng ký và vốn thực hiện) đối với 4 biến số vĩ mô đơn lẻ (GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP, biến động tỷ giá hối đoái) và đối với Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII). Kết quả định lượng làm rõ mức độ đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm định các tác động gây sức ép lên lạm phát, tỷ giá và ngân sách nhà nước trong các chu kỳ biến động kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Chương 5: Định hướng và gợi ý một số chính sách thu hút và sử dụng FDI cho ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
Căn cứ vào kết quả đánh giá thực trạng và ước lượng mô hình tại các chương trước, Chương 5 đề xuất hệ thống giải pháp chính sách nhằm thu hút và quản lý FDI hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô:
- Định hướng chuyển dịch chính sách thu hút FDI từ số lượng sang chất lượng, tập trung vào công nghệ nguồn và giá trị gia tăng cao.
- Hạn chế cấp phép các dự án FDI có tính chất đầu cơ, đặc biệt là bất động sản quy mô lớn gây nguy cơ bong bóng tài sản và bất ổn tài chính.
- Khuyến khích dòng vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm cải thiện cán cân thương mại.
- Hoàn thiện thể chế quản lý tài chính doanh nghiệp FDI, tăng cường thanh tra nhằm phát hiện và ngăn chặn hiện tượng chuyển giá, trốn thuế.
- Phối hợp đồng bộ giữa chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm giảm thiểu các cú sốc bên ngoài tới nền kinh tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Khái quát hóa lý luận về biến động kinh tế vĩ mô, hệ thống hóa các phương pháp đo lường từ các chỉ số đơn lẻ đến chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII).
- Khái quát hóa khung lý thuyết toàn diện về tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô thông qua việc phân tích đồng thời cơ chế tác động của dòng vốn FDI tới tổng thể các biến số vĩ mô cấu thành (GDP, lạm phát, tỷ giá, ngân sách nhà nước), khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước vốn chỉ phân tích từng biến số riêng rẽ.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu thực nghiệm về thực trạng thu hút, phân bổ FDI theo hình thức, đối tác, địa bàn, ngành nghề và tình hình biến động vĩ mô tại Việt Nam trong suốt giai đoạn 1991–2017.
- Ứng dụng công thức của Ismihan và cộng sự (2002) để tính toán chuỗi giá trị Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII) của Việt Nam từ quý 4/1991 đến quý 4/2017.
- Sử dụng mô hình kinh tế lượng trên Eviews 8.0 để lượng hóa chiều hướng và mức độ tác động của FDI tới cả các chỉ số vĩ mô đơn lẻ lẫn chỉ số tổng hợp MII cho nền kinh tế Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và quản lý FDI, tận dụng mặt tích cực và hạn chế tác động tiêu cực nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi dữ liệu nghiên cứu kết thúc ở mốc quý 4/2017 do giới hạn về tính sẵn có và tính đồng bộ của chuỗi số liệu thống kê tại thời điểm tác giả hoàn thành nghiên cứu.
- Các phân tích định lượng và đánh giá thực trạng chủ yếu tiếp cận ở cấp độ vĩ mô toàn quốc, chưa phân rã sâu theo cấp độ vùng kinh tế trọng điểm hoặc phân tích chi tiết cấp độ doanh nghiệp (dữ liệu vi mô).
- Chỉ số tổng hợp MII được xây dựng trên 4 biến số theo khung của Ismihan và cộng sự (2002), chưa bao quát thêm các biến số vĩ mô phát sinh mới như nợ xấu của hệ thống ngân hàng hay biến động thị trường chứng khoán.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Cập nhật chuỗi dữ liệu sau năm 2017 nhằm đánh giá tác động của FDI trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và biến động kinh tế toàn cầu giai đoạn mới.
- Mở rộng mô hình lượng hóa tác động của FDI theo từng nhóm ngành kinh tế trọng điểm hoặc phân tích dữ liệu bảng cấp tỉnh để nhận diện sai biệt vùng miền.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các ngành Kinh tế học, Kinh tế quốc tế, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế trong việc tham khảo khung lý thuyết tác động vĩ mô của FDI và phương pháp luận tính toán chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII).
- Cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc đánh giá cơ cấu dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhận diện các rủi ro vĩ mô tiềm ẩn (chuyển giá, nhập siêu, thâm hụt ngân sách, biến động tỷ giá) để xây dựng tiêu chí sàng lọc dự án FDI.
- Các phần đáng tham khảo: Khung phân tích cơ chế truyền dẫn tác động của FDI tới lạm phát và tỷ giá tại Chương 2; Hệ thống bảng thống kê chi tiết cơ cấu FDI giai đoạn 1988–2017 tại Chương 3; và Phương pháp xây dựng chỉ số MII bằng Eviews 8.0.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng quy mô vốn FDI đăng ký và giải ngân tại Việt Nam tính đến cuối năm 2017 đạt bao nhiêu?
Tính đến ngày 20/12/2017, Việt Nam có 24.748 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 318,72 tỷ USD. Số vốn thực hiện lũy kế đạt 172,35 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 54% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.
2. Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1988–2017 tập trung chủ yếu vào những quốc gia và vùng lãnh thổ nào?
FDI tại Việt Nam chủ yếu đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực châu Á, chiếm khoảng 75% tổng vốn đăng ký. Trong số 125 đối tác, Hàn Quốc đứng đầu với 6.532 dự án và 57,66 tỷ USD (18,09% tổng vốn), Nhật Bản đứng thứ hai với 3.599 dự án và 49,46 tỷ USD (15,52%), tiếp theo là Singapore với 42,23 tỷ USD (13,25%), Đài Loan với 30,91 tỷ USD (9,7%), British Virgin Islands với 22,58 tỷ USD (7,08%) và Hồng Kông với 17,76 tỷ USD (5,57%).
3. Cơ cấu dòng vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988–2017 phân bổ theo ngành như thế nào?
FDI có mặt ở 19/21 ngành kinh tế quốc dân nhưng phân bổ lệch lớn: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút quy mô lớn nhất với 186,13 tỷ USD (58,4% tổng vốn, 12.456 dự án); Lĩnh vực kinh doanh bất động sản, khách sạn và nhà hàng đứng thứ hai với 65,17 tỷ USD (20,45% tổng vốn đăng ký); Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước đứng thứ ba với 20,82 tỷ USD (6,5%); Lĩnh vực nông lâm thủy sản chỉ chiếm 3,52 tỷ USD (1,1% tổng vốn đăng ký).
4. Luận án tính toán Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII) dựa trên những biến số nào và thang đo ra sao?
Chỉ số MII được tính toán theo phương pháp của Ismihan và cộng sự (2002), dựa trên 4 biến số: tỷ lệ lạm phát, thâm hụt ngân sách/GNP, nợ nước ngoài/GNP và biến động tỷ giá hối đoái. Giá trị của từng chỉ số thành phần được chuẩn hóa về khoảng $[0, 1]$ qua công thức hiệu số cực trị, sau đó tính bình quân giản đơn 4 chỉ số. Giá trị MII nằm trong khoảng từ 0 đến 1; kết quả tiến gần về 1 biểu thị bất ổn kinh tế vĩ mô lớn, tiến dần về 0 biểu thị tính ổn định kinh tế vĩ mô.
5. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu thực nghiệm từ quý 4/1991 đến quý 4/2017?
Dù Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực từ năm 1988, nhưng trong giai đoạn 1988–1990 vốn FDI đăng ký chưa được giải ngân đáng kể do Việt Nam còn chịu cấm vận và nhà đầu tư chưa nắm rõ cơ chế; phải đến năm 1991 vốn FDI đăng ký mới bắt đầu được giải ngân thực tế (đạt 329 triệu USD). Mốc quý 4/2017 là thời điểm tác giả có đầy đủ số liệu thống kê đồng bộ theo quý để vận dụng mô hình kinh tế lượng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới biến động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam" đã giải quyết khoảng trống học thuật thực nghiệm thông qua việc đánh giá ảnh hưởng của dòng vốn FDI tới cả các chỉ số vĩ mô đơn lẻ lẫn chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tổng hợp (MII) giai đoạn 1991–2017. Bằng cách kết hợp phân tích thực trạng thống kê mô tả với mô hình kinh tế lượng trên Eviews 8.0 sử dụng chuỗi dữ liệu quý, nghiên cứu đã làm rõ các kênh truyền dẫn tác động của FDI tới tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá và cân đối ngân sách nhà nước. Các kết quả và đề xuất chính sách trong luận án là cơ sở khoa học phục vụ công tác điều hành vĩ mô và định hướng thu hút FDI có chọn lọc tại Việt Nam.