CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN BIẾN ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ 1. Chỉ số kinh tế thể hiện biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế được các nhà nghiên cứu thể hiện thông qua một chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ hoặc quan sát đồng thời nhóm một số chỉ số vĩ mô đơn lẻ hoặc thông qua một chỉ số được định lượng là tập hợp của một số chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ. Chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ Đối với thể hiện tình hình kinh tế vĩ mô thông qua một chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các chỉ số như: (1) Chỉ số tăng trưởng kinh tế: Chỉ số thường được sử dụng để thể hiện tăng trưởng kinh tế là: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Ramey & Ramey (1995) và Acemoglu và cộng sự (2003) nghiên cứu biến động kinh tế vĩ mô bằng cách sử dụng độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người.
Case & Fair (2006) coi GDP là chỉ số kinh tế để thể hiện môi trường kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế, nó ảnh hưởng đến ra quyết định của những nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và thậm chí cả người tiêu dùng. Van den Bergh (2008) cho rằng chỉ số GDP là mục tiêu của một quốc gia, Chính phủ, là “thước đo” về sự thành công của các chính trị gia, do đó GDP thường được đề cập đầu tiên để thể hiện tình hình kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Van der Ploeg và Poelhekke (2009), Di Giovanni và Levchenko (2010) đo lường biến động kinh tế vĩ mô bằng cách sử dụng độ lệch chuẩn của GDP bình quân đầu người và xuất khẩu. (2) Chỉ số lạm phát.
Các nhà nghiên cứu như Fischer (1991), Ramey và Ramey (1994), Drugeon và Wignolle (1996), Azam (1997, 1999), Yiheyis (2000), Caballero (2007), Iqbal và Nawaz (2010) và Shahbaz (2013) sử dụng lạm phát như một đại diện cho tình hình kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Olaniyan (2000) cũng chỉ ra tình trạng lạm phát và biến động lạm phát là tín hiệu quan trọng đánh giá tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô ở Nigeria và có tác động tiêu cực đến hoạt động thu hút đầu tư. Azam (2001) cho rằng lạm phát ảnh hưởng đến giá cả tương đối trong nền kinh tế, dẫn đến các tín hiệu thị trường không rõ ràng, là kết quả của bất ổn kinh tế vĩ mô. Beaudry và cộng sự (2001), Somoye và Ilo (2009), Frimpong và Marbuah (2010), cho thấy lạm phát cao có 7 tác động lớn đến tích tụ vốn trong nền kinh tế.
Theo đó, tích lũy vốn được chuyển sang danh mục đầu tư khác khi tỷ suất lợi nhuận thực tế của đồng tiền giảm. (3) Chỉ số thâm hụt ngân sách: Fischer (1993) coi thâm hụt ngân sách thể hiện tình hình kinh tế vĩ mô, theo đó khẳng định thâm hụt ngân sách là một dấu hiệu cho thấy Chính phủ không thể sử dụng các công cụ để can thiệp vào nền kinh tế, do đó bị mất quyền kiểm soát, dẫn đến tình trạng bất ổn vĩ mô. (4) Chỉ số tỷ giá hối đoái. Campa và Goldberg (1995), Azid và cộng sự (2005) lựa chọn tỷ giá hối đoái để xem xét tình hình kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, theo đó sự biến động tỷ giá hối đoái làm cho các quyết định đầu tư không chắc chắn, vì vậy các nhà đầu tư có xu hướng chờ có đủ thông tin để quyết định đầu tư, ảnh hưởng đến TTKT.
Obstfeld và Rogoff (1998) khẳng định tỷ giá biến động đã làm tăng chi phí và thâm hụt thương mại, ảnh hưởng đến TTKT. Do đó, biến động tỷ giá cũng được coi là đại diện cho tình hình biến động kinh tế vĩ mô. Bên cạnh việc chỉ chọn một biến số vĩ mô đơn lẻ đại diện cho tình hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế, một số nghiên cứu đã sử dụng việc xem xét cùng lúc các chỉ số vĩ mô đơn lẻ. Fissher (1993), Bleaney (1996) và Ismihan, Metin-Ozcan & Aysit (2002) trong nghiên cứu của mình xem xét cùng lúc các chỉ số như: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GNP và tỷ lệ nợ nước ngoài/GNP để đánh giá tình hình kinh tế vĩ mô của nền kinh tế, theo đó khẳng định tình trạng tăng lên của một trong các chỉ số trên thể hiện một nền kinh tế có tình hình kém ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong khi đó, Sameti và cộng sự (2012) chọn việc quan sát tập hợp các biến số như: GDP, lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối và thâm hụt ngân sách để xác định mức độ biến động kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, Hausman & Gavin (1996), sử dụng các chỉ số như: GDP, đầu tư và năng suất lao động để xem xét mức độ biến động kinh tế của nền kinh tế. Theo đó tác giả kết luận, nếu nền kinh tế đảm bảo các yếu tố như: tăng trưởng cao, lạm phát thấp thì coi nền kinh tế đó là ổn định kinh tế vĩ mô. Như vậy, các chỉ số kinh tế vĩ mô như: GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách và dự trữ ngoại hối thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để phản ánh tình hình biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định.
Chỉ số kinh tế vĩ mô tổng hợp Một số nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng một chỉ số được định lượng từ sự tổng hợp nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô đơn lẻ theo các công thức nhất định, coi đây là đại diện phản ánh biến động kinh tế vĩ mô của nền kinh tế trong một thời kỳ. IMF (2001) đưa ra chỉ số tổn thương tổng thể (VI) để phản ánh biến động kinh tế vĩ mô của 8 một nền kinh tế. Chỉ số này được tính dựa trên bình quân gia quyền của một tập hợp các chỉ số gồm: Chỉ số khu vực đối ngoại (tỷ trọng dự trữ so với nợ ngắn hạn, thâm hụt cán cân vãng lai; cán cân vãng lai/GDP, nợ nước ngoài/GDP, nợ nước ngoài/xuất khẩu; mức độ sai lệch tỷ giá REER); chỉ số khu vực công; chỉ số khu vực tài chính; chỉ số khu vực doanh nghiệp. Ismihan (2002) xây dựng chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII), sử dụng bốn chỉ số là tỷ lệ lạm phát, nợ nước ngoài/GNP, thâm hụt ngân sách/GNP, tỷ giá hối đoái, kết quả của chỉ số này dao động từ 0-1 để thể hiện biến động kinh tế vĩ mô, nếu kết quả tiến dần về 1 là bất ổn kinh tế lớn, tiến dần về 0 là ổn định kinh tế.
Tương tự, Jaramillo và Sancak (2007) cũng thiết lập chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô với các biến số tổng hợp như biến động của lạm phát, tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ so với tiền cơ sở và thâm hụt ngân sách đối với GDP. Thêm vào đó, Ali (2015) sử dụng chỉ số tổng hợp gồm: lạm phát, thất nghiệp, thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại để thể hiện tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô ở Pakistan. Ngoài ra, IMF (2015) đưa ra phương pháp chỉ số tổn thương giảm tăng trưởng (GDVI) nhằm định lượng nguy cơ rủi ro và đánh giá tác động lên các biến số vĩ mô, nhất là nguy cơ các cú sốc bên ngoài tác động đến suy giảm tăng trưởng kinh tế. Tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế Dựa trên kết quả tổng quan nghiên cứu về các chỉ số đại diện cho tình hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế, luận án xem xét các nghiên cứu tác động của FDI tới biến động của các chỉ số đại diện này để thể hiện tác động của FDI tới biến động kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế.
Trong đó, đối với GDP, hiện có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh rằng FDI có tác động tích cực đến GDP; đối với các chỉ số như lạm phát, thâm hụt ngân sách, dự trữ ngoại hối và tỷ giá hối đoái, hiện cũng có một số nghiên cứu trên thế giới về tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài (trong đó có FDI), nhưng khá hạn chế các nghiên cứu tách riêng để chỉ rõ FDI có tác động đến các chỉ số kinh tế này. Tác động của FDI tới biến động của GDP Có nhiều nghiên cứu nước ngoài và tại Việt Nam cho thấy FDI có tác động tới GDP. Do xuất khẩu, nhập khẩu và lao động cũng là các nhân tố tác động đến GDP nên thường các nghiên cứu tác động của FDI tới biến động của GDP kết hợp đánh giá tác động của FDI đến biến động của xuất khẩu, nhập khẩu và việc làm. Lucas (1988, 1990), Romer (1986, 1987) và Mankiw (1992) xem xét nguồn nhân lực và vốn đầu tư (bao gồm cả FDI) là những yếu tố tạo ra tăng trưởng kinh tế.
Blostrom và Kokko (1998) cho thấy các tập đoàn đa quốc gia đã đưa công nghệ hiện 9 đại và vốn (FDI) vào nước nhận đầu tư, đồng thời đào tạo kỹ năng quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển cho công nhân ở nước sở tại, cho phép họ cạnh tranh thành công với các công ty đa quốc gia khác và các doanh nghiệp địa phương. Dựa trên lý thuyết về sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nhà kinh tế bao gồm Chen (1979), Ahikpor (1990), Hill và John (1991) và Todaro (1994), Liu, Burridge và Sinclair (2002), Wasantha Athukorala (2003), Jallab (2008), chứng minh FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển như: (1) FDI cung cấp cho các nước tiếp nhận đầu tư thêm vốn, công nghệ và thiết bị tiên tiến hoặc hỗ trợ tài chính để nhập khẩu hàng hoá mà họ không thể sản xuất được. (2) FDI có thể tăng năng suất lao động của các nước tiếp nhận vốn thông qua chuyển giao công nghệ, cung cấp thiết bị và các sản phẩm trung gian khác cho các nhà sản xuất trong nước và đào tạo lao động địa phương, các kỹ sư và các nhà quản lý ở các nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, sản phẩm của các công ty nước ngoài bù đắp cho sản phẩm nhập khẩu, qua đó giảm thâm hụt thương mại.