Chương 1: Những nhân tố mới tác động tới phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Chương 3: Triển vọng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam. 9 z CHƢƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ MỚI TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP ÔTÔ VIỆT NAM 1.
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 1. Định nghĩa Hội nhập kinh tế quốc tế là sự tham gia vào phân công lao động quốc tế, là sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới và các định chế quốc tế thông qua nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau (từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu).Trong đó, các nước cùng nhau thực hiện những luật chơi được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các nước với nhau. Như vậy, thực chất của hội nhập kinh tế quốc tế là sự xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các quốc gia với nhau trong quan hệ kinh tế quốc tế (là xóa bỏ các rào cản thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm rào cản thuế quan và phi thuế quan).
Các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều cấp độ. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm. Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).
Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều. Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn 10 z có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc- Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP). Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.
Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế. Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU hiện nay.
Tiến trình hội nhập của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ chức, diễn đàn kinh tế thế giới và khu vực cũng như những Hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và cam kết thực hiện. Tiến trình hội nhập của Việt Nam được trình bày ở những điểm sau: 1. Cam kết trong hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Tại phụ lục B1 của hiệp định này, lịch trình loại bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe là 5 năm kể từ ngày Hiệp định có 11 z hiệu lực.
Như vậy, vào ngày 10/12/2006 Việt Nam sẽ không đươc hạn chế số lượng nhập khẩu loại xe này từ Hoa Kỳ. Tại Phụ lục D về lịch trình bãi bỏ hạn chế về quyền kinh doanh nhập khẩu và quyền phân phối sản phẩm công nghiệp quy định đối với ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe, xe vận tải hàng hóa, xe chuyên dụng. Như vậy, thời gian bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước theo BTA chỉ được đến năm 2006 (đối với việc nhập khẩu), 2007 (đối với việc kinh doanh nhập khẩu), và năm 2008 (đối với hoạt động phân phối). Cam kết trong khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Hiện nay, khu vực Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN gần như đã được thành lập.
Các quốc gia thành viên ASEAN đã tạo ra được bước tiến đáng kể trong việc giảm thuế quan trong nội bộ khối thông qua chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Hơn 99% các sản phẩm trong danh mục giảm thuế (IL) của CEPT của các nước ASEAN-6 bao gồm: Bruney, Indonexia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái Lan đã giảm xuống còn 0 – 5%. Các thành viên mới của ASEAN như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam là những nước tham gia muộn hơn,nên thời hạn để giảm thuế các mặt hàng xuống còn 5% đối với Việt Nam là 2006, Myanmar và Lào là năm 2008, Campuchia vào năm 2010. Mức thuế quan 0% cho các nước ASEAN-6 được thực hiên trước năm 2010, còn đối với Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia là trước năm 2015, một số mặt hàng nhạy cảm có thể gia hạn trước năm 2018.
Riêng với mặt hàng ô tô, hiện nay, tất cả các loại xe ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe, xe ô tô và các loại xe khác có động cơ được thiết kế chủ yếu để chở người, kể cả xe trở người có khoang hành lý riêng và ô tô đua đều nằm trong danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) của Việt Nam thực hiện CEPT/AFTA. Tuy nhiên, do Việt Nam đưa ô tô vào danh sách GEL nên sẽ bất lợi vì không được tham chương trình Hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO). Theo đó, AICO buộc CEPT đạt mức thuế 0 – 5% cho một mặt hàng thương mại giữa hai hay nhiều nước, nhưng chỉ áp dụng cho các mặt hàng không ở trong danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL). Và để 12 z hưởng lợi từ kế hoạch AICO, Việt Nam phải bỏ ô tô khỏi danh sách GEL và đưa vào danh mục loại trừ tạm thời (TEL), hoặc danh mục cắt giảm (IL) trong thời gian tới.
Cam kết trong khu vưc thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Vào ngày 12/6/2006, Bộ Tài Chính đã ban hành quyết định 35/2006/QD-BTC về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Trung Quốc. Theo đó 9133 mặt hàng sẽ tham gia thực hiện cắt giảm thuế kể từ 1/1/2006 với mức thuế suất ACFTA theo đúng lộ trình giảm thuế của năm 2006 đã được quy định tại Hiệp định thương mại hàng hóa và Biên bản ghi nhớ. Theo báo cáo của Bộ tài chính về sự tác động của ACFTA đối với ngành công nhiệp ô tô Việt Nam, lộ trình cắt giảm thuế như sau: Xe ô tô (mã số 8702, 8703), ngọai trừ các loại xe buýt được sử dụng trong ngành hàng không, và những loại xe chuyên dùng trong HSL, vẫn duy trì mức thuế 100% (MFN) cho đến năm 2017 và giảm xuống 50% vào năm 2018.
Các loại xe tải (mã số 8704): Dưới 5 tấn: giảm dần từ 100% xuống 45% vào năm 2014 Từ 5 đến 10 tấn: giảm dần từ 60% xuống 30% vào năm 2012 Từ 10 đến 20 tấn: giảm dần từ 30% xuống còn 5% vào năm 2013 và 0% vào năm 2018. Cam kết với Tổ chức thương mại thế giới WTO Trở thành thành viên chính thức của WTO vào ngày 11/1/2007, Việt Nam phải tuân thủ theo nguyên tắc không phân biệt đối xử với: Hàng hóa, dịch vụ, đầu tư Quyền nhập khẩu hàng hóa, quyền kinh doanh Quyền về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô Xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu ô tô cũ đã qua sử dụng hợp pháp Xóa bỏ cơ chế hai giá từ 31/12/2005 Trong năm 2007, Bộ tài chính đã ba lần điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô từ 13 z 90% xuống 80% và 60% để thực hiện những cam kết của WTO. Sự điều chỉnh này có tác động đáng kể lên thị trường ô tô Việt Nam, số lượng xe nhập khẩu tăng mạnh. Trong một vài năm tới, những tác động của WTO lên thị trường ô tô sẽ không còn mạnh mẽ như thời kỳ đầu, vì bước đầu Việt Nam chưa giảm thuế nhiều và chưa có nhiều sự thay đổi về thuế tiêu thụ đặc biêt và thuế giá trị gia tăng.
Tuy nhiên, các nhà sản xuất ô tô nước ngoài lại có thể tự do đầu tư vào Việt Nam mà không cần phải thành lập liên doanh với các nhà sản xuất trong nước. Điều này có thể tác động mạnh mẽ đến các nhà sản xuất ô tô nội địa trong việc cạnh tranh về thị phần. Hiện tại, có rất nhiều nhà sản xuất ô tô Trung Quốc có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam. Tác động của xu thế hội nhập tới phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.