Chương 1: Tổng quan và các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Thực trạng FDI và GDP tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 123doc 3 Chương 3: Định lượng mối tương quan giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2011. Chương 4: Kiến nghị chính sách thu hút FDI để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 123doc 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ.1 Tổng quan về tăng trƣởng kinh tế GDP Theo định nghĩa của Simon Kuznet (1966) thì “ tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người”, theo Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) thì “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng hơn dân số”. Các nhà kinh tế học đã sử dụng hai chỉ tiêu: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong hầu hết các bài nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế đều sử dụng chỉ tiêu GDP làm đối tượng nghiên cứu.2 Tổng quan về vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): các khoản đầu tư được thực hiện trực tiếp như hỗ trợ công nghệ và thành lập các nhà máy mới. Theo IMF định nghĩa, “FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp”. Theo định nghĩa của Tổ chức Thương Mại Thế giới: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được 123doc 5 một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Phương diện quản lý là yếu tố dùng để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở các nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hoặc chi nhánh. Theo cách tiếp cận này, nhà đầu tư nước ngoài có hai hình thức lựa chọn đầu tư vào một quốc gia: hoặc là bỏ vốn xây dựng một cơ sở kinh doanh mới (greenfield investment) hoặc là bỏ vốn mua lại/sát nhập với một cơ sở kinh doanh sẵn có và tiếp tục hoạt động, phát triển nó (Merger and Acquisition).4 Các nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về FDI nói chung, nhưng có rất ít các nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa FDI và GDP thông qua việc sử dụng phương pháp định lượng.
Theo thống kê của tác giả có các nghiên cứu được chính thức công bố về vấn đề này bằng phương pháp định lượng, cụ thể như sau: TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Th.S Vũ Xuân Nguyệt Hồng, ThS. Trần Toàn Thắng, TS. Nguyễn Mạnh Hải (2006): sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ này.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất hai bước (2SLS) để đo lường mức độ tác động của FDI, tài sản vốn con người, mức độ hội nhập kinh tế, chi tiêu của chính phủ, vốn đầu tư trong nước đến GDP. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam đã được hưởng lợi hơn từ hội nhập kinh tế mà cụ thể là đóng góp tích cực của FDI tới tăng trưởng trong giai đoạn 1988-2004. FDI không chỉ cung cấp vốn đầu tư và tăng tài sản vốn, mà còn có tác động làm tăng hiệu quả đầu tư chung của nền 123doc 6 kinh tế. Tuy nhiên, trình độ lao động thấp là một yếu tố đang cản trở đóng góp nhiều hơn của nguồn vốn này vào tăng trưởng.5 Các nghiên cứu nƣớc ngoài: Sự gia tăng đáng kể trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như những năm 1990 đã dẫn đến sự nổi lên của một số ý tưởng tập trung vào các động lực tăng trưởng được đo bởi Tổng sản phẩm quốc nội.
Kết quả là, mối quan hệ phức tạp giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dẫn đến một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm ở các nước phát triển và đang phát triển. Khi các khía cạnh lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng được kiểm tra, chúng ta có nhiều kết quả tương phản nhau. Tuy nhiên, những bằng chứng về một mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cũng thường xuyên được đưa ra. Sau Borensztein, De Gregorio, và Lee (1998), nhiều nghiên cứu nhấn mạnh rằng FDI làm gia tăng sự phát triển nếu nước chủ nhà có được một nguồn nhân lực phù hợp.
Dưới đây là một số nghiên cứu về mối quan hệ này.1 Quan điểm cho rằng có mối quan hệ giữa GDP và dòng vốn FDI Trong nghiên cứu của mình, Nair-Reichert và Weinhold sử dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển cho kết quả là đầu tư trực tiếp nước ngoài gây ra sự gia tăng tạm thời trong trung hạn, tăng trưởng kinh tế trong nước được thực hiện thông qua việc tăng lượng đầu tư trong nước và hiệu quả của nó. Mặt khác, lý thuyết tăng trưởng nội sinh mới tập trung vào sự phát triển lâu dài. Do vậy, họ cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể liên tục tăng tỷ lệ tăng trưởng thông qua chuyển giao công nghệ và hiệu ứng lan tỏa. Nair-Reichert và Weinhold, (200, pp.
123doc 7 Tương tự, Borenzstein et al.(1998) đã thực hiện một phân tích hồi quy trong đó bao gồm 69 quốc gia đang phát triển và các dữ liệu bao gồm những năm tài chính 1970-1979. Trong bài nghiên cứu, mô hình tăng trưởng nội sinh được sử dụng cho thấy rằng công nghệ phát triển là rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển và vốn đầu tư nước ngoài là một phương tiện quan trọng cho việc chuyển giao công nghệ, đóng góp tương đối nhiều hơn để tăng trưởng so với đầu tư trong nước. Tuy nhiên, vốn đầu tư nước ngoài chỉ có năng suất cao chỉ khi nước tiếp nhận có một nguồn nhân lực đủ để phát triển. Như vậy, FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế khi nước chủ nhà có sẵn một khả năng hấp thụ khoa học công nghệ tiên tiến nhất định.
Borenzstein, De Gregorio và Lee (1998, pp. Mặt khác, Chakraborty và Basu cũng tiến hành một nghiên cứu tính toán các mối quan hệ nhân quả giữa vốn đầu tư nước ngoài và sự gia tăng trong sản xuất. Kết quả của nghiên cứu, dựa trên dữ liệu hàng năm từ năm tài chính 1974 đến 1996, cho thấy sự hiện diện của quan hệ nhân quả từ FDI tới GDP chứ không phải là từ GDP tới FDI. Chakraborty và Basu, (2002, pp.
Tương tự, Zhang (2001) và Choe (2003) phân tích các quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Zhang sử dụng dữ liệu cho 11 nước đang phát triển ở Đông Á và Mỹ Latinh. Sử dụng kiểm định đồng liên kết và kiểm định quan hệ nhân quả Granger, Zhang (2001) tìm thấy rằng trong năm trường hợp tăng trưởng kinh tế được tăng cường bởi vốn đầu tư nước ngoài nhưng điều kiện ở nước tiếp nhận như chế độ thương mại và sự ổn định kinh tế vĩ mô là quan trọng. Theo những phát hiện của Choe (2003), quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài có theo cả hai chiều, nhưng với xu hướng là 123doc 8 tăng trưởng quan hệ nhân quả vốn FDI, có rất ít bằng chứng cho thấy vốn FDI quan hệ nhân quả tăng trưởng nước chủ nhà.
Makki và Somwaru trong nghiên cứu của mình, họ sử dụng dữ liệu từ 66 quốc gia được phân loại trong ba thập kỷ qua (1971-1980, 1981-1990, 1991-2000). Nghiên cứu này là một bản sao mở rộng phân tích Borenzstein (1998). Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu cho rằng FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế cùng với thương mại quốc tế, vốn con người và vốn trong nước, và cuối cùng, họ kết luận FDI có tác động tích cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Makki và Somwaru, (2004, pp. Bruce Blonigen và Miao Grace Wang không đồng ý với Maria Carkovic và Ross Levine. Họ tập trung vào một vấn đề thường không được chú ý trong nghiên cứu thực nghiệm liên quốc gia của FDI - việc sử dụng cơ sở dữ liệu kết hợp bằng chứng từ các nước phát triển và đang phát triển. Tổng hợp dữ liệu theo vốn giả định, Bruce Blonigen và Miao Grace Wang chỉ ra rằng yếu tố quyết định và tác động của FDI là giống hệt nhau cho các nước phát triển và đang phát triển mặc dù lý thuyết thường cho rằng chúng về cơ bản có thể khác nhau.
Kết quả là, suy luận bắt nguồn từ các nghiên cứu với số liệu tổng hợp có thể là không chính xác hoặc gây hiểu lầm cho một hoặc cả hai loại nước này. Bruce Blonigen và Miao Grace Wang (2002) kiểm tra độ nhạy của các kết quả khi dữ liệu nước giàu và nước nghèo được gộp lại đối với 3 loại nghiên cứu thực nghiệm FDI khác nhau: nghiên cứu dựa trên các yếu tố quyết định của hoạt động FDI xuyên quốc gia; nghiên cứu về các tác động của FDI vào tăng trưởng cấp quốc gia; và nghiên cứu về vấn đề đầu tư trong nước cho dù dòng vốn đầu tư 123doc 9 nước ngoài theo đám đông đi ra (hoặc theo đám đông vào) ở nước sở tại. Trong tất cả ba lĩnh vực, họ tìm thấy bằng chứng rằng hỗn hợp dữ liệu quốc gia giàu và nghèo là một phương pháp điều tra bị lỗi và dẫn đến kết luận sai lầm. Khi dữ liệu được giữ phân khúc, các tác giả thấy rằng động cơ theo chiều dọc cho vốn đầu tư nước ngoài, ví dụ, có nhiều khả năng chiếm ưu thế ở dòng vốn đầu tư vào nước có mức lương thấp hơn so với các nước có mức lương cao, và vốn đầu tư nước ngoài đó là ít có khả năng đám đông ra và đầu tư trong nước ở các nước kém phát triển hơn so với ở các nước đang phát triển.