Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận về quan hệ lao động Chương 2. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp thành phố Hà Nội.
Giải pháp xử lý các quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp thành phố Hà Nội. 4 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài Những nghiên cứu lý thuyết chung về quan hệ lao động: Nhà kinh tế học người Mỹ Dunlop.T được coi như người đi tiên phong trong trào lưu nghiên cứu lý thuyết về quan hệ lao động với một mô hình cụ thể được đưa ra vào năm 1958, “The Industrial Relation”(quan hệ lao động), là tác phẩm đầu tiên viết về đề tài này. Tác phẩm đã nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản và đầu tiên về mối quan hệ lao động trong môi trường sản xuất công nghiệp. Tác phẩm cũng đã chỉ ra vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ này như là “một hệ thống có tính logic như một hệ thống kinh tế trong một xã hội công nghiệp”. Theo Dunlop các chủ thể phải liên hệ với nhau bởi một hệ tư tưởng chung hay một số quan niệm được các bên chấp nhận và chia sẻ.
Chính tư tưởng này tạo cơ sở cho một hệ thống thương lượng tập thể, nhờ đó giải quyết êm thấm các mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên. Môi trường hay bối cảnh hoạt động của hệ thống bao gồm cả trình độ công nghệ, tình hình kinh tế hay thị trường, tình hình chính trị và ngân sách của doanh nghiệp. Kết quả đầu ra của mô hình được Dunlop gọi là một tập hợp các quy tắc về quyền và trách nhiệm của các chủ thể bao gồm những quy tắc về nội dung, là cơ sở cho mối quan hệ tương tác giữa các bên hay các quy tắc về quy trình tức cách thức thực hiện quan hệ lao động này. Tuy nhiên tác giả lại không giải thích được sự thay đổi trong mối quan hệ giữa người chủ và người thợ khi mâu thuẫn của hai đối tượng này càng ngày càng gia tăng so với chủ trương xây dựng mối quan hệ chủ - thợ không có xung đột của tác giả [16, tr.
5 z Tác phẩm “Strategie choice and industrial relations theory”( Sự lựa chọn chiến lược và lý thuyết về quan hệ chủ thợ) năm 1984 của Kochan, McKensie và Cappeli đã cung cấp hệ thống lý thuyết về sự lựa chọn chiến lược cho các nhà quản lý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa người lao động và chủ thuê lao động. Theo Kochan, có ba chiến lược về quan hệ lao động mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn sau khi đã phân tích thời cơ, nguy cơ từ bên ngoài và điểm mạnh, điểm yếu từ bên trong doanh nghiệp. Đó là: Duy trì trạng thái không có công đoàn; để công đoàn tồn tại nhưng hạn chế ảnh hưởng và quyền lực; coi công đoàn là một yếu tố tích cực cho hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó sẽ có một loạt các chính sách tương ứng và mặc dù với những chiến lược khác nhau song những chính sách tiến bộ về quản trị nguồn nhân lực đều phát huy tác dụng.
Chính sách này làm hạn chế tác dụng của công đoàn tiến tới không công đoàn nhưng chỉ phù hợp trong điều kiện của một nền kinh tế phát triển nên nó bị hạn chế khi áp dụng vào các nền kinh tế đang phát triển như nước ta [16, tr 38]. “Mô hình tác động tương hỗ của Andre Petit”, Andre Petit với quan điểm về mô hình tác động tương hỗ, điểm khác biệt trong mô hình quan hệ lao động của Petit là ông nhấn mạnh tác động tương hỗ giữa các thành phần, yếu tố trong quan hệ lao động. Đầu tiên các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài hoặc bên trong sẽ tác động đến các hoạt động diễn ra trong quan hệ lao động từ đó dẫn đến những kết quả nhất định. Sau đó, chính những kết quả này lại tác động trở lại môi trường, tác động tới đầu vào và các hoạt động.
Trong đó người lao động và người sử dụng lao động- công đoàn viên như là những người chơi trong một ván bài lợi ích và mục tiêu không tương đồng. Để tìm được giải pháp thỏa đáng cho vấn đề này, cần phải làm sao cho mỗi bên có quyền lực gần như nhau từ đó xuất hiện các quy tắc thỏa thuận để giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích. Trong mô hình của Petit, quan hệ lao động được mô 6 z tả như là một hệ thống đối đầu và nó độc lập hoàn toàn với giới chủ và nhà nước cả về cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động cũng như cơ chế tài chính nên công đoàn được tự do trong việc đấu tranh cho quyền lợi của người lao động mà không cần bận tâm đến việc doanh nghiệp bị suy giảm sức cạnh tranh hay nền kinh tế bị ảnh hưởng. Mô hình này không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển [16, tr 40].
Các tác giả Grant và Malette (Trường Đại học tổng hợp Québec tại Montréal) thì cho rằng đó là những mối quan hệ lao động cá nhân và tập thể giao hòa trong một tổ chức công nghiệp hóa”. Theo Daniel Quinn Mille: Quan hệ lao động là mối quan hệ qua lại giữa những con người, các tổ chức, các cấp đọ quản lý trong một môi trường công nghiệp. Các tác giả đều có cùng quan điểm là coi quan hệ lao động tồn tại như một hệ thống. Trong mỗi mô hình, các thành phần cơ bản của hệ thống đều được chỉ ra một cách rõ ràng.
Phương pháp được dùng để phân tích quan hệ lao động đều là phương pháp mô hình hóa bởi đầu vào, đầu ra và cấu trúc của hệ thống đã được xác định. Dunlop là người đầu tiên phân tích quan hệ lao động theo cách tiếp cận hệ thống tuy nhiên ông chủ trương thiết lập mối quan hệ chủ- thợ theo xu hướng loại trừ xung đột điều này khó có thể diễn ra trên thực tế trong quan hệ lao động. Đồng thời mô hình này chỉ có thể vận dụng và phân tích quan hệ lao động với giả thiết là các bên luôn có tư tưởng và quan điểm chung, một điều cũng ít khi xảy ra trong thực tế. Mô hình lựa chọn chiến lược của Kochan là mô hình tiên tiến và phù hợp với xu hướng quản trị nguồn nhân lực hiện đại.
Tuy nhiên ở chiến lược 7 z “không cần công đoàn” hay “công đoàn tồn tại nhưng hạn chế ảnh hưởng và quyền lực” chỉ thích hợp với tình hình ở các nước phát triển [16, tr 42]. Mặc dù các nhà nghiên cứu đưa ra những lý luận khác nhau để giải thích vấn đề quan hệ lao động song đều thống nhất cho rằng quan hệ lao động là mối quan hệ qua lại giữa người lao động và người sử dụng lao động và chịu sự đều chỉnh về mặt pháp lý, can thiệp của nhà nước và nó chỉ diễn ra trong môi trường công nghiệp. Tình hình nghiên cứu trong nước Về nghiên cứu thực nghiệm đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề quan hệ lao động trong loại hình doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: Nguyễn Mạnh Cường đã đưa ra mô hình quan hệ lao động ở các doanh nghiệp Việt Nam, trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng mô hình quan hệ lao động. Phương pháp phân tích mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay và khuyến nghị xây dựng mô hình, hoàn thiện hệ thống quan hệ lao động phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam [4].
Nghiên cứu“Công đoàn và quan hệ lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường tại Việt Nam”, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (2012). Trình bày khái quát về thực tiễn tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động công đoàn Việt Nam và vấn đề sửa đổi luật Công đoàn. Thực trạng, thách thức và giải pháp về việc thành lập công đoàn cơ sở và mối quan hệ giữa công đoàn cấp trên cơ sở với công đoàn cơ sở. Một số vấn đề về quan hệ lao động, đối thoại xã hội tại doanh nghiệp.
Đây chính là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết một số vấn đề khi diễn ra tranh chấp trong quan hệ lao động và thấy được vai trò của công đoàn tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lê Thanh Hà, “Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và vai trò của công đoàn”, nhà xuất bản Lao động đã nêu ra một số vấn đề về vai trò công đoàn và quan hệ lao động trong doanh nghiệp. Thực trạng quan hệ lao động và vai 8 z trò của công đoàn trong doanh nghiệp cùng những giải pháp xây dựng quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam [15]. Nghiên cứu”Tranh chấp lao động và đình công trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta” của Vũ Dũng (2011), đã trình bày một số vấn đề lý luận về tranh chấp lao động và đình công, đình công ở một số nước và kinh nghiệm giải quyết.
Thực trạng, nguyên nhân tranh chấp lao động, đình công ở nước ta. Các giải pháp giải quyết tranh chấp lao động và đình công ở nước ta hiện nay. Qua đó có thể đưa ra những dự báo về khả năng giải quyết khi có tranh chấp lao động xảy ra [11]. Nghiên cứu “Lao động, việc làm của công nhân trong các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ” của Tạ Thị Đoàn (2011), đã bàn về lý luận cơ bản về lao động, việc làm của công nhân trong các khu công nghiệp.
Thực trạng đời sống, việc làm của công nhân cùng những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm tạo việc làm và nâng cao đời sống của công nhân trong các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [14]. Một số nghiên cứu khác của tác giả: Lê Thanh Hà trong “Một số bất cập về việc làm, thu nhập của công nhân, người lao động ở nước ta hiện nay”,(2011), “Vấn đề tranh chấp lao động và đình công ở Việt Nam trong 10 năm(2000-2010)”.