CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ CỦA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Các nghiên cứu mối quan hệ của FDI và TTKT trên góc độ vốn đầu tư 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong thời gian qua, mối quan hệ của FDI và TTKT là đề tài được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới.
Trên góc độ vốn đầu tư, rất nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi FDI và TTKT có mối quan hệ hay không. Nếu có mối quan hệ này là tích cực hay tiêu cực. Đồng thời, cũng có một số nghiên cứu về mối quan hệ này trong hiệu ứng ngưỡng để xem ứng với mức vốn FDI bao nhiêu là hợp lý có thể tác động tích cực đến TTKT. Tuy nhiên, kết quả các nghiên cứu chưa có xu hướng thống nhất, cụ thể: Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy được mối quan hệ một chiều, FDI tác động tích cực đến TTKT.
Một số nghiên cứu sử dụng dữ liệu thời gian để nghiên cứu về vấn đề này như nghiên cứu của Asafu-Adjaye (2000), kiểm tra tác động của FDI đến TTKT tại Indonesia giai đoạn 1970-1996. Trong đó, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến với GDP là biến phụ thuộc, đại diện cho TTKT. Các biến độc lập bao gồm vốn FDI và các biến kiểm soát như vốn nhân lực và tổng tiết kiệm trong nước. Nghiên cứu đã ứng dụng mô hình VAR với dữ liệu thời gian, kết quả nghiên cứu cho thấy FDI tác động tích cực đến TTKT.
Ngoài ra, vốn nhân lực và tiết kiệm trong nước cũng ảnh hưởng thuận chiều với TTKT. Tương tự Koojaroenprasit (2012), nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng ở Hàn Quốc giai đoạn 1980-2009 cũng cho kết quả tương tự. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng trong phân tích mối quan hệ này. Điển hình như nghiên cứu của Pegkas (2015), đánh giá tác động của FDI đến TTKT ở 18 nước khu vực EUROZONE giai đoạn 2002-2012.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng OLS kết hợp với phương pháp ước lượng FEM và REM trên mô hình hồi quy: L(GDPit) = β0 + β1FDIit. Kết quả cho thấy FDI đóng vai trò quan trọng và tác động tích cực lên TTKT các nước này trong dài hạn. Nghiên cứu còn đưa ra nhận định, các quốc gia này cần ổn định kinh tế vĩ mô để tạo dựng môi trường đầu tư tốt nhằm thu hút dòng vốn FDI, và đây là điều kiện cần thiết có thể thúc đẩy TTKT. Hay nghiên cứu 10 của Carkovic và Levine (2005), sử dụng dữ liệu của 72 quốc gia (bao gồm các nước phát triển và đang phát triển) với phương pháp ước lượng GMM, cũng cho kết quả tương tự là FDI tác động tích cực đến TTKT ở các quốc gia này.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu khẳng định vai trò của FDI đối với TTKT cũng được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu khác nhau, cụ thể như: công trình của Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng và Nguyễn Mạnh Hải (2006), đánh giá tác động FDI đến TTKT Việt Nam giai đoạn 1988-2003. Kết quả cho thấy mối quan hệ tác động này là tích cực. Tuy nhiên, trình độ lao động thấp đã làm cản trở đóng góp của nguồn vốn này vào tăng trưởng. Tiếp theo có thể kể đến là nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa và Lê Nguyễn Quỳnh Phương (2014), thông qua việc sử dụng mô hình tự hồi quy vector (VAR) để kiểm định thực nghiệm về mối quan hệ giữa FDI, đầu tư trong nước và TTKT của Việt Nam giai đoạn 1988 - 2012.
Kết quả cũng cho thấy tồn tại mối quan hệ tích cực một chiều của FDI với TTKT. Ở phạm vi địa phương, Đặng Thành Cương (2012) cũng đã cho kết quả tương tự, FDI tác động tích cực đến TTKT tỉnh Nghệ An. Hay nghiên cứu gần đây ở phạm vi vùng của Thái Sơn (2017) đã khẳng định FDI tác động tích cực tới TTKT vùng KTTĐMT nhưng tác động không đáng kể. Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy được mối quan hệ một chiều, TTKT tác động tích cực đến FDI Điển hình như nghiên cứu của Umeora (2013), xem xét mối quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT Nigeria giai đoạn 1986 – 2011.
Kết quả cho thấy TTKT tác động tích cực đến FDI, nhưng ngược lại FDI không có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng ở Nigeria. Mặc dù kết quả nghiên cứu mâu thuẩn với kỳ vọng tiên nghiệm của tác giả và các lý thuyết ủng hộ nguồn vốn FDI với TTKT tại nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định nguồn vốn FDI rất cần thiết để đạt được mục tiêu tăng trưởng ở các nước đang phát triển nói chung và Nigeria nói riêng, khi mà nguồn vốn trong nước còn quá ít. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hồ Thị Thanh Mai và Phạm Thị Thanh Thủy (2016), sử dụng mô hình VAR và kiểm định nhân quả Granger để kiểm tra mối quan hệ này tại tỉnh Khánh Hòa.
Dữ liệu nghiên cứu thứ cấp giai đoạn 1995 – 2014 (gồm 20 quan sát). Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tác động của FDI đến TTKT không có ý nghĩa thống 11 kê, nhưng TTKT thì có tác động tích cực đến thu hút FDI. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở việc đưa ra các kết luận mà chưa giải quyết được sâu xa của vấn đề, đó là tìm ra được những điều kiện cần thiết để FDI có thể đóng góp tích cực vào TTKT của địa phương. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng FDI không có mối quan hệ/tác động tiêu cực (kìm hãm) đến TTKT.
Temiz và Gökmen (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và TTKT ở Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1992-2007. Kết quả cho thấy không tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa về mối quan hệ này. Hay nghiên cứu của Belloumi (2014) cũng cho kết quả tương tự khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại, FDI với TTKT ở Tunisia. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thời gian giai đoạn 1970-2008 với mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL).
Trong đó, biến phụ thuộc là FDI và các biến độc lập bao gồm TTKT, độ mở thương mại, lao động và tổng vốn đầu tư. Kết quả nghiên cứu phát hiện không có mối quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định FDI là nguồn vốn rất quan trọng để thúc đẩy TTKT. Vì vậy, cần phải nâng cao hiệu quả nguồn vốn FDI để có thể tác động tích cực đến tăng trưởng ở quốc gia này.
Ngược lại với các kết quả trên, nghiên cứu của Saqib, Masnoon, và Rafique (2013) đã sử dụng dữ liệu thời gian giai đoạn 1981-2010 với phương pháp bình phương bé nhất (OLS). Kết quả cho thấy FDI tác động ngược chiều với TTKT của Pakistan. Một số nghiên cứu đã cho rằng FDI và TTKT có mối quan hệ hai chiều Bengoa và Sanchez-Robles (2003) đã phân tích về mối quan hệ của FDI, độ mở thương mại và TTKT ở 18 nước đang phát triển thuộc Châu Mỹ La Tinh giai đoạn 1970- 1999. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa FDI và TTKT.
Tuy nhiên, ở các quốc gia này cần có điều kiện về vốn nhân lực, độ mở thương mại, và ổn định kinh tế vĩ mô thì mới phát huy được vai trò của FDI đối với TTKT. Tương tự, Mishal và Abulaila (2007) đã kiểm tra ảnh hưởng FDI với TTKT ở Jordan giai đoạn 1976-2003. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là GDP đại diện cho tăng trưởng; FDI và nhập khẩu là biến độc lập. Kết quả ước lượng bằng phương pháp OLS cho thấy tồn tại mối quan hệ hai chiều tích cực của mối quan hệ của FDI và TTKT.
Cũng đồng quan điểm trên, nghiên cứu của Tripathi, Seth, và Bhandari (2015) đã tìm thấy kết quả tương tự ở Ấn Độ giai đoạn 1997-2011. 12 Hay nghiên cứu thực hiện bởi Chowdhury và Mavrotas (2005), trên cơ sở xem xét mối quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT giai đoạn 1969 -2000 của ba nước đang phát triển (Chile, Maylaysia và Thái Lan). Kết quả cho thấy mối quan hệ hai chiều này là tích cực ở Chile. Tương tự, Carp (2015) đã kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT ở 5 quốc gia (Bulgaria, Crech Rebublic, Hungary, Poland, và Romania) ở vùng Trung và Đông Âu trên cơ sở sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 1993-2013.
Kết quả khẳng định tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều này ở Hungary (các quốc gia còn lại chỉ tồn tại mối quan hệ một chiều của FDI với TTKT). Tại Việt Nam, Hồ Đắc Nghĩa (2014) đã nghiên cứu về mối quan hệ này theo cách tiếp cận mô hình VAR với dữ liệu thời gian giai đoạn 1990-2012. Tập hợp các biến mà tác giả sử dụng trong mô hình là GDP đại diện cho TTKT, FDI, nguồn vốn trong nước, lực lượng lao động, vốn con người, và độ mở nền kinh tế. Kết quả nghiên cứu khẳng định FDI và TTKT có mối quan hệ hai chiều tích cực.
Đặc biệt, TTKT là yếu tố tác động mạnh nhất đến thu hút FDI. Bên cạnh đó, vốn đầu tư trong nước, lao động, và vốn con người cũng ảnh hưởng thuận chiều với thu hút FDI. Hay nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh và Lê Hà Thu (2014) đã sử dụng mô hình VAR để phân tích mối quan hệ này tại Việt Nam. Các kết quả cho thấy FDI có tác động rất tích cực đến TTKT và ngược lại.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ rõ nguồn vốn FDI đã kích thích xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ, là những tiền đề quan trọng cho TTKT Việt Nam. Tương tự, Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh (2010) đã đánh giá mối quan hệ này ở Việt Nam trong giai đoạn 1988-2009. Kết quả cũng cho thấy tồn tại mối quan hệ tác động tích cực giữa FDI và TTKT. Ở phạm vi địa phương, Nguyễn Hồng Hà (2015) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và TTKT tỉnh Trà Vinh trên cơ sở ứng dụng mô hình VAR với dữ liệu thời gian theo quý (quý 1/1999 đến quý 4/2013).
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ này là tích cực hai chiều. Ở phạm vùng, Nguyễn Minh Tiến (2014) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này trên 63 tỉnh/thành với dữ liệu bảng giai đoạn 1997-2012. Kết quả cho thấy FDI tác động dương đến TTKT ở cấp độ tổng thể vùng. Riêng đối với từng vùng, thì FDI chỉ tác động tích cực đến TTKT ở vùng Bắc Trung Bộ, DHMT và Đồng bằng sông Hồng, nhưng tác động rất thấp.
Chiều ngược lại, TTKT có tác động đến dòng vốn FDI vào Việt Nam.