CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ FDI 1. Tổng quan về phát triển bền vững 1. Khái niệm và nội dung phát triển bền vững 1. Khái niệm Đây là khái niệm hoàn toàn mới mẻ, xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh từ trước đến nay, phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của loài người.
Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng bởi IUCN (Liên minh bảo tồn thế giới có trụ sở ở Thụy Sĩ) trong báo cáo về chiến lược bảo tồn thế giới: “Bảo tồn nguồn lực sống cho sự phát triển bền vững” với các tham số được đưa ra có rất nhiều điểm tương đồng với khái niệm được thể hiện bởi Brutland nhưng báo cáo của chính họ không nhận được sự chú ý đặc biệt. Và chỉ sau khi thủ tướng của Na Uy cũng là chủ tịch Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đã nhấn mạnh sự cần thiết cho một quan niệm mới về sự phát triển toàn cầu thì mọi người mới bắt đầu chú ý đến sự cần thiết phải phát triển bền vững. Đó là: - Xã hội và môi trường là những vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. - Những áp lực về môi trường không bị giới hạn trong một địa điểm hoặc ranh giới địa lý đặc biệt nào.
- Thảm họa môi trường đã từng xảy ra dù chỉ ở một khu vực của thế giới song cuối cùng vẫn ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người ở khắp nơi. - Chỉ thông qua phương pháp tiếp cận bền vững để phát triển thì mới có thể bảo vệ được các hệ sinh thái mong manh của trái đất và mục đích phát triển của con người mới được đẩy mạnh. Và cũng chính trong báo cáo này Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đã đưa ra lập luận rằng phát triển bền vững chỉ có thể diễn ra trong điều kiện phản ánh những “giới hạn thực tế” (realistic limits) và “năng lực thực hiện” của một hành tinh hữu hạn. Ủy ban cũng thu hút sự chú ý của mọi người đến mối quan hệ mật thiết không thể tách rời giữa đói nghèo, phát triển và môi trường “sự quản lý yếu 9 kém của hành tinh chúng ta có quá nhiều việc phải làm với sự phân phối không công bằng lợi ích của sự phát triển.
Việc duy trì sự bất bình đẳng này chỉ có thể có nghĩa là một đợt rút vốn tiếp tục tài nguyên thiên nhiên của thế giới và môi trường. Rõ ràng, định nghĩa ngắn gọn của Ủy ban Brundtland về phát triển bền vững là định nghĩa tiêu chuẩn khi đánh giá sự phát triển bền vững bởi nó được sử dụng rộng rãi và tần số được trích dẫn rất lớn. Với định nghĩa này chúng ta đều thấy rằng sự phát triển bền vững có một trọng tâm chính là sự bình đẳng giữa các thế hệ, và mặc dù định nghĩa về phát triển bền vững hết sức ngắn gọn không đề cập một cách rõ ràng đến môi trường hoặc phát triển nhưng trong các báo cáo về phát triển đều khẳng định rằng nhu cầu của con người là cơ bản và cần thiết, nhưng tăng trưởng kinh tế cũng cần đi đôi với việc chia sẻ công bằng nguồn lợi với người nghèo, đây là sự cần thiết để duy trì nguồn tài nguyên. Như vậy, có thể thấy: “Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác, sự phát triển của cá nhân không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng, sự phát triển của công đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không đe doạ sự sống còn hoặc làm suy giảm nơi sinh sống của các loài khác trên hành tinh (các loài cộng sinh).
Bởi vì sự sống còn của con người là dựa trên cơ sở duy trì được sản lượng, năng suất tự nhiên, khả năng phục hồi và sự đa dạng của sinh quyển”. (Nguyến Thế Chinh, 2003) Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam. Nội dung phát triển bền vững Từ khái niệm phát triển bền vững, thực chất là một sự phát triển có tính tổng hợp cao và có hệ thống.
Tiếp cận quan điểm hệ thống và tổng hợp cho phép 2 nhà môi trường học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệ biện chứng giữa môi trường và phát triển trong hình dưới đây KINH TẾ XÃ HỘI PTBV = A ∩ B ∩ C A B C MÔI TRƯỜNG Nguồn: (Nguyến Thế Chinh, 2003) Hình 1.1: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường Mô hình đó cũng đã được Mohan Munasingle, chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) phát triển vào năm 1993. - Cực môi trường: Cũng giống như sự phát triển của sinh vật, sự phát triển xã hội phải giải đáp được bài toán do môi trường đặt ra. Trong bất kì phương án quy hoạch phát triển nào hướng bền vững cũng đều phải tính toán kĩ mối tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên sao cho sự phát triển kinh tế-xã hội không làm suy thoái hoặc huỷ diệt môi trường, bảo tồn tài nguyên, ngăn chặn ô nhiễm. - Cực kinh tế: Theo quan điểm của trường phái phát triển bền vững, thì sinh lực kinh tế của một xã hội tuỳ thuộc vào khả năng giải quyết vấn đề giá trị thặng dư bằng cách sử dụng giá trị thặng dư để trao đổi và bù đắp những thiệt hại do sự phát triển kinh tế đơn thuần gây ra.
Giá trị thặng dư có thể được tạo ra bằng cách nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ…Đối với những sản phẩm được chế tạo ra từ 11 nguồn gốc thiên nhiên, vấn đề chủ yếu là xem xét tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo hay không. Nếu không thì phải tiến hành nghiên cứu và chế tạo các sản phẩm có khả năng thay thế. Muốn vậy, phải cộng thêm vào giá thành sản phẩm làm từ tài nguyên không tái tạo một loại chi phí khác đủ để nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thay thế. Trong cực này phải đảm bảo sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định.
- Tăng trưởng KINH TẾ - Hiệu quả - Ổn định - Công bằng giữa các thế hệ -Đánh giá tác động môi trường - Mục tiêu trợ giúp việc làm - Tiền tệ hóa tác động môi trường - Giảm đói nghèo - Xây dựng thể chế XÃ MÔI -Đa dạng sinh học - Bảo tồn di sản HỘI TRƯỜNG thích nghi -Công bằng giữa các thế hệ - Bảo tồn TNTN -Sự tham gia của quần chúng - Ngăn chặn ô nhiễm Nguồn: (Nguyến Thế Chinh, 2003) Hình 1.2: Tiếp cận phát triển bền vững - Cực xã hội: Sự phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội, nghĩa là nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Đó cũng chính là sự phát triển tự sinh do chính xã hội ấy chủ động thực hiện, chứ không phải là sự phát triển ngoại sinh, sống nhờ hoàn toàn vào nguồn lực từ bên ngoài, muốn vậy phải giảm đói nghèo, thường xuyên xây dựng thể chế tốt và bảo tổn di sản văn hoá dân tộc. 12 Tổng hợp lại ta thấy: Phát triển bền vững là 1 sự phát triển cân đối giữa 3 cực tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường, không được xem nhẹ cực nào.1: Thành phần rộng của phát triển bền vững Thành phần Mục tiêu Giới hạn sinh thái và tiêu chuẩn Khuyến khích tiêu dùng những loại hàng hóa công bằng đảm bảo về mặt sinh thái Hoạt động kinh tế và phân bổ Đảm bảo tăng trưởng kinh tế cho phép tất cả mọi nguồn lực một cách công bằng người đáp ứng được nhu cầu của họ Kiểm soát dân cư Ngăn chặn sự gia tăng dân số vượt quá năng lực sản xuất của hệ sinh thái Bảo tồn tài nguyên Bảo vệ tất cả các hệ thống tự nhiên Đảm bảo năng suất bền vững Xác định tiềm năng sản xuất của các hệ sinh thái Duy trì nguồn tài nguyên Giảm tỷ lệ suy giảm tài nguyên không tái tạo Đa dạng hóa các loài Bảo tồn và bảo vệ các loài thực vật, động vật Giảm thiểu tác động tiêu cực Ngăn chặn việc gây thiệt hại cho hệ sinh thái do ô nhiễm Ngăn chặn việc khai thác và làm suy thoái hệ Kiểm soát cộng đồng sinh thái Phối hợp quản lý sinh quyển Khuôn khổ quốc gia/ quốc tế Theo đuổi các chính sách kiểm soát sự tăng Khả năng kinh tế trưởng được đưa ra bởi chính phủ các nước Là mục tiêu của các công ty Đảm bảo chất lượng môi trường Theo dõi sự quản lý của các hệ thống quản lý Kiểm toán môi trường môi trường Nguồn: (Bùi Thị Thu Vân, 2017) 13 Mặc dù định nghĩa về phát triển bền vững của Brudtland khá rõ ràng nhưng chính bản thân nó lại rất phức tạp, vì vậy David Brown, Chủ tịch Viện nghiên cứu phát triển tại đại học Boston đã phân biệt 4 kích thước của phát triển bền vững: (Bùi Thị Thu Vân, 2017) - Sự bền vững sinh thái ngụ ý rằng tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được và những nguồn tài nguyên khác không thể bị cạn kiệt. - Sự bền vững kinh tế có nghĩa là sự cải thiện, phát triển sẽ không phụ thuộc vào các nguồn lực hữu hạn (có khả năng bị cạn kiệt).
- Tính bền vững chính trị đòi hỏi phải có những thay đổi phù hợp với hiện tại. - Tính bền vững về xã hội cho thấy rằng những thay đổi phải được phù hợp với giá trị cốt lõi, sự mong đợi và tập tục của xã hội. Cũng theo Brown, phương pháp tiếp cận hiệu quả của phát triển bền vững phải: - Tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương. - Giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên mà phải được đưa từ bên ngoài vào.
- Không tìm kiếm sự cải thiện mà quá lệ thuộc vào tài nguyên.