phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 Chƣơng: CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CÁCBON THẤP CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN THU HÚT FDI CÁCBON THẤP Ở VIỆT NAM - NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HÀ NỘI CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÚT FDI CÁCBON THẤP CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CÁCBON THẤP CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Khái niệm FDI cácbon thấp và phát triển bền vững: 1. Khái niệm FDI cácbon thấp: Khái niệm FDI cácbon thấp (low-carbon Foreign Direct Investment) cũng gần giống với định nghĩa về dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI (Foreign Direct Investment) thông thƣờng, LCF (low-carbon Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Trong đó, cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Nhƣng điểm khác với FDI thông thƣờng là LCF thông qua hoạt động sản xuất, hoặc tiêu dùng hoặc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của FDI cácbon thấp làm giảm phát thải lƣợng khí nhà kính (GHG, Green house Gase). Thông qua định nghĩa trên, FDI cácbon thấp có thể giúp giảm phát thải khí nhà kính thông qua hai phƣơng pháp sau : a, Thông qua quy trình sản xuất. Chu trình sản xuất của LCF nhằm giảm thiểu phát thải thông qua hoạt động của các TNCs hay các dự án đầu tƣ mới có thể qua các cách sau: Thứ nhất, chuyển từ việc sử dụng nguồn năng lƣợng hóa thạch nhƣ than, dầu …với lƣợng phát thải CO2 lớn sang các nguồn năng lƣợng đầu vào sạch hơn và lƣợng khí nhà kính thải ra thấp hơn, chẳng hạn nhƣ những nguồn năng lƣợng có thể tái tạo đƣợc hay năng lƣợng hạt nhân.
Thứ hai, sử dụng khối lƣợng nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên ít hơn, tức là việc gia tăng vật chất tài nguyên một cách tƣơng đối thông qua những công nghệ sử dụng khối lƣợng nguyên liệu đầu vào từ thiên nhiên. 8 z Thứ ba, thông qua các hoạt động tích cực nhằm giảm phát thải khí nhà kính nhƣ: gia tăng năng suất các nguồn cung cấp năng lƣợng; các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn hoặc cải thiện quá trình tự động hóa để sử dụng ít năng lƣợng hơn. Thứ tư, tái chế chất thải có thể sử dụng đƣợc hoặc đầu tƣ, nâng cấp các nhà máy xử lý chất thải một cách sạch nhất. Bên cạnh đó, theo chuỗi giá trị toàn cầu của những nhà đầu tƣ LCF, họ có thể yêu cầu những nhà cung cấp, những khách hàng và đối tác của mình cũng phải sử dụng những công nghệ sản xuất sạch.
Trong một số trƣờng hợp, những doanh nghiệp này còn có thể hỗ trợ công nghệ, hƣớng dẫn hoặc liên minh với nhau để tạo ra một công nghệ mới, thân thiện môi trƣờng hơn. Chẳng hạn nhƣ các TNCs hoạt động trong ngành nông nghiệp có thể ảnh hƣởng tới các nhà cung cấp thay đổi theo hƣớng bền vững hơn, nhƣ việc chăn nuôi, trồng trọt sạch hơn.1: Giới thiệu về quá trình sản xuất low-carbon nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính dọc theo chuỗi giá trị. Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới năm 2010 b, Thông qua quá trình tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ low- carbon Các dòng LCF có thể đầu tƣ vào việc sản xuất và quảng bá sản phẩm và dịch vụ low-carbon mà họ sản xuất, mà thông qua quá trình tiêu thụ những 9 z sản phẩm này làm giảm thiểu lƣợng khí thải nhà kính hơn so với sử dụng các sản phẩm thông thƣờng. Chẳng hạn nhƣ xe ôtô chạy bằng điện thay vì chạy bằng xăng, những đồ điện tử tiết kiệm điện và các phƣơng tiện giao thông khác sử dụng năng lƣợng sạch.
Tuy nhiên cần chú ý rằng, các sản phẩm low- carbon còn tùy thuộc vào nhu cầu của ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ các điều kiện kinh doanh của thị trƣờng, thực tế thì những nhu cầu nhƣ vậy là khác nhau ở mỗi quốc gia. Ngoài ra, các doanh nghiệp Low-carbon FDI hay các TNCs cung cấp các công nghệ sạch, ít carbon thông qua tái cấu trúc trong quy trình phát thải cho các công ty tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Điều này không chỉ cho phép các công ty ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ có cơ hội tiếp cận với công nghệ mới mà còn cho phép các TNCs tiếp cận đƣợc thị trƣờng mới. Nhƣ vậy, dòng vốn FDI cácbon thấp đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
Tuy nhiên dòng LCF này khó đo lƣờng và xác định bởi thiếu một phƣơng pháp đo lƣờng tuyệt đối, đối với từng dòng FDI cácbon thấp vào những khu vực khác nhau thì lại có những đặc thù khác nhau. Những loại hình Low-carbon FDI đã nêu trên đều có khả năng áp dụng vào thực tiễn cao, chẳng hạn nhƣ các dự án BOT. Khi một TNCs đầu tƣ thông qua dòng Low-carbon FDI có thể có những ảnh hƣởng tích cực tới việc giảm thiểu phát thải thông qua chính chuỗi giá trị và cung ứng của nó. Ngoài ra, TNCs trong vị trí hỗ trợ cung cấp công nghệ cho các nhà cung cấp địa phƣơng tốt hơn so với các công ty ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, và trong chính chuỗi giá trị toàn cầu còn có thể làm đƣợc nhiều hơn thế nhằm đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm sạch từ những ngƣời tiêu dùng sản phẩm cuối cùng ở các quốc gia phát triển.
Khái niệm về phát triển bền vững: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững. Theo Herman Daly (1992) nhà kinh tế học làm việc ở Ngân hàng thế giới cho rằng: “Một thế giới bền vững, có nghĩa là thế giới đó không sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo (nhƣ rừng, nƣớc, các động thực vật …) nhanh hơn khả năng tự 10 z tái tạo của những nguồn tài nguyên này”. Đây là một định nghĩa khá hợp lý về mặt lý thuyết, nhƣng thực tế không có một nền kinh tế nào trên thế giới có thể thực hiện đƣợc sự phát triển này. Định nghĩa đƣợc sử dụng rộng rãi hơn cả là định nghĩa đƣợc trình bày trong báo cáo “tƣơng lai của chúng ta” của Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới – WCED, năm 1987 và thƣờng đƣợc gọi là “Báo cáo Brundtland”: “Sự phát triển mà thỏa mãn đƣợc các nhu cầu của hiện tại nhƣng không làm tổn hại đến khả năng của thế hệ tƣơng lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ”.
Nhƣ vậy, nếu phát triển về mặt kinh tế hiểu theo nghĩa cổ điển thì chỉ liên quan đến các yếu tố thuần túy về mặt kinh tế nhƣ: GDP (GNP), sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng suất … thì phát triển bền vững là một khái niệm rộng hơn có tính chất tổng hợp liên quan đến 3 lĩnh vực: Kinh tế, Xã hội, Môi trƣờng. Hay nói một cách khác phát triển bền vững quan tâm đến nâng cao chất lƣợng cuộc sống con ngƣời. [8, tr 53] Kinh tế Chất lƣợng Môi cuộc Xã hội trƣờng sống Hình 1.2: Tam giác nhân tố phát triển bền vững Nguồn: Tác giả tổng hợp a, Phát triển bền vững kinh tế: Phát triển bền vững kinh tế là một bộ phận cấu thành quan trọng của phát triển bền vững ở mỗi quốc gia hiện nay. Đó là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu, chất lƣợng của nền kinh tế gắn với việc bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng.
11 z Nhƣ vậy, nội dung cơ bản của phát triển kinh tế bền vững bao gồm: đạt đƣợc mức tăng trƣởng tƣơng đối cao và ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ, sử dụng nguồn lực tiết kiệm hiệu quả. - Tăng trưởng tương đối cao và ổn định: Tăng trƣởng kinh tế thƣờng đƣợc đo bằng tăng trƣởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng thu nhập quốc dân (GNI). Tăng trƣởng kinh tế có vai trò rất quan trọng, không chỉ thể hiện mức tăng tiến về mặt quy mô của nền kinh tế, mà tăng trƣởng còn là điều kiện, tiền đề giải quyết các vấn đề về mặt kinh tế - xã hội của một quốc gia cũng nhƣ từng địa phƣơng. Để đảm bảo tính bền vững tăng trƣởng phải đáp ứng tối thiểu ba yêu cầu cơ bản là: + Thứ nhất, mức tăng trưởng tương đối cao.
Việc duy trì tăng trƣởng ở mức cao không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng mà do dân số và quy mô tiêu dùng tăng, nhu cầu sản xuất tăng …, mà còn là con đƣờng để rút ngắn khoảng cách với các nƣớc khác. Với việc duy trì tăng trƣởng trên 6% hàng năm trong hơn 20 năm ở các nƣớc NICs Châu Á đã đƣa các nƣớc này từ nƣớc kém phát triển để trở thành các nƣớc có thu nhập cao. + Thứ hai, tăng trưởng cần bảo đảm tính ổn định. Đây là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm tính bền vững trong phát triển kinh tế.
Tính ổn định của tăng trƣởng vừa thể hiện năng lực sản xuất, khả năng đảm bảo nguồn lực cho tăng trƣởng và khả năng chống chịu trƣớc những biết động bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Tính ổn định của nền kinh tế có thể đƣợc xác định bằng nhiều cách. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, mức độ ổn định của tăng trƣởng có thể đƣợc đánh giá qua độ lệch chuẩn hoặc bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn và tốc độ tăng trƣởng. + Thứ ba, tăng trưởng cần bảo đảm chất lượng.
Tức là tăng trƣởng cần dựa trên yếu tố chất lƣợng, chiều sâu là chính, tăng trƣởng gắn liền với việc nâng cao năng suất, chất lƣợng có hiệu quả. 12 z - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có tác động lớn tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấu theo hƣớng tiến bộ đồng nghĩa với việc phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng có lợi thế so sánh, đồng thời phù hợp với xu hƣớng phát triển tất yếu của thế giới. Đối với những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, cơ cấu chuyển dịch theo hƣớng tiến bộ nghĩa là tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong GDP và giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, giảm tỷ trọng xuất khẩu hàng sơ chế.