CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THU HÚT FDI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Khái niệm Theo các tổ chức quốc tế, có nhiều khái niệm khác nhau về FDI: Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF, Fifth Edition-BPM5, 1993) [28]: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự của doanh nghiệp. Mức độ sở hữu vốn cổ phần có liên quan đến quyền quản lý doanh nghiệp, IMF đề nghị mức 10% quyền sở hữu vốn cổ phần được xem là đủ điều kiện để nhà đầu tư trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, Third Edition-BD3, 1996) [28]: một doanh nhiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một doanh nghiệp hợp nhất hoặc chưa hợp nhất trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết trong doanh nghiệp (trừ trường hợp có quy định khác). Một đặc điểm quan trọng nhất của FDI giúp chúng ta phân biệt với danh mục đầu tư nước ngoài đó là FDI thực hiện với ý định được quyền kiểm soát doanh nghiệp. Ngân hàng Thế giới (WB) [14]: đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Imad A.Moosa (2002) [23], FDI được phân thành 03 loại chủ yếu, đó là: FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): là loại FDI thực hiện sản xuất cùng một loại hàng hóa ở nước tiếp nhận đầu tư giống như loại hàng hóa được sản xuất ở nước đi đầu tư, nghĩa là doanh nghiệp FDI thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung cấp dịch vụ giống nhau ở nhiều địa điểm khác nhau trên toàn cầu.
Do đó, yếu tố quyết định sự thành công của hình thức FDI này là sự khác biệt của sản phẩm. Hình thức FDI theo chiều ngang sẽ hướng đến khai thác lợi thế độc quyền hoặc sản phẩm chủ lực, đặc biệt là khi việc phát triển sản xuất trong nước vi phạm luật chống độc quyền. Đối với mô hình FDI theo chiều ngang thì quy mô thị trường và sự tương đồng của các yếu tố sản xuất là nguyên nhân cơ bản dẫn đến quyết định đầu tư FDI theo chiều ngang. Ưu điểm của hình thức này là do nhà đầu tư tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trên phạm vi rộng nên rủi ro thấp.
FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): là loại FDI hướng vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu thô và các yếu tố đầu vào rẻ (như lao động, đất đai) của nước tiếp nhận đầu tư hoặc để trở nên gần gũi hơn với người tiêu dùng thông qua việc thiết lập các kênh phân phối tại nước tiếp nhận đầu tư. Ví dụ như trước đây, các nhà sản xuất ô tô của Mỹ gặp khó khăn khi tiếp thị ô tô của họ đối với thị trường Nhật Bản bởi vì hầu hết nhà buôn ô tô của Nhật Bản luôn có mối quan hệ khắng khít với nhà sản xuất ô tô Nhật Bản. Để vượt qua khó khăn này, nhà sản xuất ô tô Mỹ tiến hành thiết lập hệ thống nhà buôn ô tô của Mỹ ngay chính thị trường Nhật Bản để tiếp thị ô tô của mình. Đối với hình thức FDI theo chiều dọc thông qua việc giành quyền kiểm soát nguồn nguyên liệu thô, doanh nghiệp FDI sẽ gia tăng rào cản gia nhập thị trường hoặc đẩy đối thủ cạnh tranh mới ra khỏi ngành.
Ưu điểm của hình thức 123doc 8 đầu tư này là do nhà đầu tư chuyên sâu vào một hoặc một vài sản phẩm nên sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn. FDI theo chiều ngang hay FDI theo chiều dọc, cho dù đầu tư dưới hình thức nào nếu nhà đầu tư không xử lý khí thải, rác thải, nước thải tốt thì đều gây ra ô nhiễm môi trường. FDI kết hợp (Conglomerate FDI): là loại FDI kết hợp thực hiện theo chiều ngang và theo chiều dọc. Lợi ích của đầu tư trực tiếp nước ngoài Khi xem xét một dự án FDI, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước thì cần đánh giá tất cả các lợi ích mà dự án có thể mang lại, kể cả trực tiếp và gián tiếp.
Sau đây là một số lợi ích phổ biến của dự án FDI: 1. Giải quyết vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes, tiêu biểu là mô hình Harrod-Domar cho rằng: nguồn gốc tăng trưởng kinh tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia, nhưng nếu GDP/ đầu người thấp thì rất khó dành cho tiết kiệm để đầu tư. Đây là một trong những trở ngại của quốc gia có thu nhập thấp. Do vậy, hướng khắc phục chính là thu hút thêm nguồn đầu tư từ nước ngoài [5].
Khi tiếp nhận một nhà đầu tư mới, sẽ bổ sung thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận, làm đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Giải quyết việc làm cho người lao động Một lợi ích phổ biến khác của FDI là tạo thêm việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp. Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế tiêu cực, góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội. Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia, nó không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế mà còn giải quyết các vấn đề xã hội [17].
123doc 9 Mức độ giải quyết việc làm của doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quy mô đầu tư của dự án, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn lao động của nước tiếp nhận đầu tư. Tăng lợi ích thu nhập từ thuế FDI đóng góp vào nguồn thu ngân sách địa phương, vì ngay cả trong thời gian nhà đầu tư nước ngoài được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thì địa phương cũng có thể tăng thu được từ thuế thu nhập cá nhân do những việc làm mới mà doanh nghiệp FDI tạo ra và các loại thuế gián thu khác [29]. Chuyển giao công nghệ cho nước tiếp nhận đầu tư Thông qua các hoạt động đầu tư, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tiến hành chuyển giao công nghệ, nhờ đó trình độ công nghệ sản xuất trong nước được cải thiện. Mặt khác, để đạt được lợi nhuận trong bối cảnh ngày càng cạnh tranh gay gắt, các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải từng bước đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hơn.
Hoạt động chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài, một mặt góp phần tạo ra sản phẩm có chất lượng, mặt khác thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới, cải tiến công nghệ để tồn tại và phát triển [29]. Cải thiện kỹ năng cho người lao động Các công ty nước ngoài thường chú trọng việc đào tạo, huấn luyện kỹ năng cho người lao động, điều này đã góp phần đào tạo nên một đội ngũ lao động lành nghề và cán bộ quản lý có trình độ, hay nói cách khác doanh nghiệp FDI đã làm thay đổi cơ bản năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và quá trình rèn luyện của người lao động trong công việc hàng ngày [29]. Cải thiện tình hình xuất khẩu Phần lớn các doanh nghiệp FDI đều chú trọng xuất khẩu, do vậy xuất khẩu của doanh nghiệp FDI thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương. Với mạng lưới phân phối rộng, doanh nghiệp FDI có thể xuất khẩu hiệu quả hơn các doanh nghiệp trong nước và với sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI đã khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước thâm nhập ngày càng sâu hơn vào thị trường xuất khẩu [29].
Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước FDI tạo ra cơ hội cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công ty nước ngoài, dẫn đến thúc đẩy doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng, độ tin cậy của sản phẩm làm ra và sẽ trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, các công ty nước ngoài thường xuyên đưa ra thị trường sản phẩm mới nên buộc doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với loại sản phẩm này. Kết quả là doanh nghiệp trong nước hoạt động hiệu quả hơn và tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu thị trường [29]. Bên cạnh những lợi ích do đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại, dòng vốn FDI cũng tạo ra chi phí cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Chi phí của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo OECD (2002) [27] việc luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào một quốc gia có thể xuất hiện một số nguy cơ tiềm ẩn đối với nước tiếp nhận đầu tư, như làm tăng thâm hụt cán cân mậu dịch, tác động xấu đến môi trường (nhất là dự án đầu tư vào ngành khai khoáng và công nghiệp nặng) và thôn tính thị trường trong nước. Gần đây, quốc gia tiếp nhận đầu tư ngày càng nhận ra sự phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI về chủ quyền chính trị. Ngoài ra, theo Kenvin Gallagher (2003) [24] thì FDI sẽ làm cản trở quá trình phát triển kinh tế của đất nước và theo nghiên cứu của Viện Kinh tế Quốc tế cảnh báo rằng: “FDI làm biến dạng cơ bản nền kinh tế và ảnh hưởng đến triển vọng phát triển của quốc gia”. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.
Khái niệm Phát triển bền vững Khái niệm về phát triển bền vững hiện nay được nhiều tổ chức và cá nhân định nghĩa dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, năm 1987 trong báo cáo của Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) nhan đề “Tương lai chung của chúng ta” cụm từ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và được định nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển để đáp ứng yêu cầu của hiện tại, nhưng không trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”[8].