phần mở đầu, kết luận và các danh mục tham khảo, khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng sau đây: 9 z Chƣơng 1 : Khái quát chung về thị trƣờng chứng khoán và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trên thị trƣờng chứng khoán Chƣơng 2. Thực trạng và vai trò của đầu tƣ nƣớc ngoài trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 10 z CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Lý luận chung về chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán : 1.1 Chứng khoán Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ và các loại chứng khoán khác.2 Thị trƣờng chứng khoán Khái niệm Thị trƣờng chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, đƣợc quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này đƣợc tiến hành ở thị trƣờng sơ cấp khi ngƣời mua mua đƣợc chứng khoán lần đầu từ những ngƣời phát hành, và ở những thị trƣờng thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đƣợc phát hành ở thị trƣờng sơ cấp.
Nhƣ vậy, xét về mặt hình thức, thị trƣờng chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhƣợng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Thị trƣờng chứng khoán có những chức năng cơ bản sau: - Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế - Cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp - Tạo môi trƣờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô 11 z Phân loại Thị trƣờng chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng.) có kỳ hạn trên 1 năm. Sau đây là một số cách phân loại thị trƣờng chứng khoán cơ bản: Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: Thị trƣờng chứng khoán đƣợc chia thành thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. - Thị trƣờng sơ cấp: Thị trƣờng sơ cấp là thị trƣờng mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trƣờng này, vốn từ nhà đầu tƣ sẽ đƣợc chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tƣ mua các chứng khoán mới phát hành. - Thị trƣờng thứ cấp: Thị trƣờng thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: Thị trƣờng chứng khoán đƣợc phân thành thị trƣờng tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trƣờng OTC) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường: Thị trƣờng chứng khoán cũng có thể đƣợc phân thành các thị trƣờng: thị trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu, thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái sinh. − Thị trƣờng cổ phiếu: Thị trƣờng cổ phiếu là thị trƣờng giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thƣờng, cổ phiếu ƣu đãi.
− Thị trƣờng trái phiếu: Thị trƣờng trái phiếu là thị trƣờng giao dịch và mua bán các trái phiếu đã đƣợc phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ. − Thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trƣờng các chứng khoán phái sinh là thị trƣờng phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác nhƣ: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tƣơng lai, hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi. 12 z Hàng hóa trên thị trƣờng chứng khoán: Đối tƣợng giao dịch chính trên thị trƣờng chứng khoán là chứng khoán. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh. − Cổ phiếu: là một loại chứng từ, dƣới hình thức chứng từ hay ghi trên hệ thống điện tử, nó xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của ngƣời có cổ phiếu hợp pháp đối với tài sản của ngƣời phát hành. − Trái phiếu: là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ gốc lẫn lãi của trái chủ đối với các cá nhân hay tổ chức phát hành trái phiếu đó. − Chứng khoán phái sinh: là những công cụ đƣợc phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nhƣ cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tƣợng đầu tƣ nhƣ cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ đƣợc duy trì ở mức ban đầu. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhƣng nhìn chung có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tƣơng lai (futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán Đầu tƣ là một quá trình làm cho nguồn tài chính hiện tại vận động nhằm mục tiêu thu lợi nhuận trong tƣơng lai. Nhà đầu tƣ mong muốn đƣợc bồi hoàn do sự chậm trễ trong tiêu dùng, do ảnh hƣởng của lạm phát và có thể xảy ra rủi ro.
Vốn đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán, hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, vốn đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực,… đã tích lũy của chính mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, quỹ đầu tƣ, chính phủ. 13 z Các hình thức đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán - Huy động gián tiếp: Phƣơng thức này đƣợc thực hiện thông qua các định chế tài chính trung gian. Do vậy, sự xuất hiện của ngân hàng là một bƣớc tiến quan trọng trong quá trình giao lƣu vốn, ngân hàng làm vai trò trung gian giữa ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn bằng cách huy động tiền gửi rồi cho vay.
Trong quá trình đó, ngân hàng cùng các tổ chức tín dụng khác đã làm cho quá trình giao lƣu vốn đƣợc phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên do tốc độ phát triển của thị trƣờng phƣơng thức huy động vốn gián tiếp thông qua ngân hàng bộc lộ nhiều hạn chế về các điều kiện, thủ tục, hạn mức tín dụng,… - Huy động trực tiếp: Qua kết quả của các quá trình huy động vốn đã hình thành một phƣơng thức huy động vốn đƣợc mọi ngƣời ƣa chuộng hơn, đó là phƣơng thức huy động vốn trực tiếp. Nguyên tắc cơ bản của phƣơng thức này là ngƣời cần vốn (Chính phủ hay doanh nghiệp) sẽ phát hành các loại giấy tờ có giá chứng nhận chủ quyền về các khoản vốn đƣợc sử dụng gắn liền với những đặc quyền mà ngƣời mua nó đƣợc hƣởng thụ. Các hình thức và kỳ hạn của các giấy tờ có giá này đa dạng tùy thuộc vào mục đích huy động của ngƣời sử dụng vốn.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá đại diện cho những khoản vốn trung và dài hạn đƣợc mua và bán trên thị trƣờng chứng khoán. Phân nhóm nhà đầu tƣ dựa trên mục đích đầu tƣ Có thể phân nhóm các nhà đầu tƣ nhƣ sau: Thứ nhất, đó là những nhà đầu tƣ phân tích rất kỹ mọi thông tin về công ty phát hành cổ phiếu, về công nghệ, về thị trƣờng đầu vào và đầu ra, về các đối thủ cạnh tranh. Họ quyết định đầu tƣ dựa trên tình hình thực tế và tiềm năng của công ty. Đây là những nhà đầu tƣ khôn ngoan, họ chọn những công ty có triển vọng tốt để đầu tƣ, vì vậy họ giúp cho nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Loại thứ hai nghiên cứu rất kỹ thông tin về chứng khoán để tìm ra giá bình quân trong một thời gian dài. Khi giá tăng lên trên bình quân, họ tin là giá sẽ xuống, nên họ bán ra, nhiều ngƣời cùng bán ra làm giá giảm xuống. Ngƣợc lại, khi giá xuống dƣới mức bình quân, họ tin là giá sẽ lên, vậy là họ đi mua vào, nhiều 14 z ngƣời cùng hành động nhƣ vậy đẩy giá lên. Nhóm các nhà đầu tƣ này góp phần làm ổn định thị trƣờng.
Loại thứ ba lại có tâm lý ngƣợc lại. Khi thấy giá một cổ phiếu tăng, họ giả định là ngày mai sẽ tăng hơn nữa, nên họ tranh nhau mua, chính vì vậy mà giá càng tăng. Một khi giá giảm, họ lại giả định ngày mai sẽ giảm nữa, vậy là họ vội vàng bán làm cho giá càng giảm hơn nữa. Nhóm thứ ba này là nguyên nhân gây nên sự bất ổn định của thị trƣờng.
Loại thứ tư là những ngƣời đầu tƣ theo bình quân thị trƣờng. Họ mua một tập hợp rất nhiều loại chứng khoán khác nhau để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra. Vị thế của họ tùy thuộc vào biến động chung của thị trƣờng mà ít phụ thuộc vào một vài cổ phiếu cụ thể nào. Loại thứ năm là những nhà đầu tƣ tập trung vào cổ phiếu của một công ty nhằm mục tiêu nắm đƣợc quyền kiểm soát công ty.
Họ gần nhƣ “chung thủy” dài hạn với công ty đó và ít quan tâm đến những biến động nhất thời theo tâm lý thị trƣờng. Loại thứ sáu là những nhà đầu cơ rất ngắn hạn. Họ mua vào bán ra liên tục hàng ngày theo tin đồn nhanh, có khi sáng mua trƣa bán. Thị trƣờng gọi nhóm này là “gây nhiễu”.
Tất nhiên không phải nhà đầu tƣ nào cũng kiên định theo một cách hành xử đã chọn. Và ranh giới giữa các loại trên không phải bao giờ cũng rõ ràng. Theo quan sát hoạt động của các nhà đầu tƣ Việt Nam trên thị trƣờng khoán trong thời gian qua thì có nhiều nhà đầu tƣ thuộc loại thứ ba và loại thứ sáu. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán nhận thức và trình độ của các nhà đầu tƣ ngày càng cao hơn góp phần đƣa hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng đi vào đúng quỹ đạo của nó.2 Đặc trƣng của thị trƣờng chứng khoán: 1.1 Hình thức tài chính trực tiếp Đây là đặc trƣng cơ bản nhất của thị trƣờng chứng khoán.