mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi, bổ sung 5 lần vào các năm 1990, 1992, 2000, 2005, 2014. Hiện nay, công tác QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài căn cứ theo Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các nghị định hướng dẫn thi hành. Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 15 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
Đây là định hướng quan trọng và làm tiền đề cho việc thu hút, quản lý, hợp tác đầu tư nước ngoài theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về quy hoạch và phát triển. Các nhân tố tác động đến QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Một là, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong những năm qua, các bộ, ngành, địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh cũng như các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện trên tinh thần nỗ lực cải cách mang đến môi trường kinh doanh, đầu tư công khai, minh bạch.
Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019, định hướng đến năm 2021 là sự tiếp nối các Nghị quyết 19/NQ-CP trước đây (2014 – 2018). Nhờ sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương một cách tích cực và toàn diện nên niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước vào Chính phủ kiến tạo ngày càng được củng cố, giúp cho Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Hai là, tình hình kinh tế, tài chính toàn cầu. Tình hình khu vực, thế giới dự báo tiếp tục có những biến động khó lường, tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư quốc tế có xu hướng giảm, cạnh tranh chiến lược, căng thẳng địa chính trị, xung đột giữa một số quốc gia, nền kinh tế lớn diễn biến phức tạp, chủ nghĩa bảo 16 hộ gia tăng… đã tác động không nhỏ đến công tác QLNN về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Ba là, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực với các quốc gia, vùng lãnh thổ, trên cơ sở đó, thu hút đầu tư nước ngoài tạo thế và lực phát triển kinh tế - xã hội. Bốn là, định hướng chính trị, chính sách “hướng Nam” của các nhà đầu tư quốc tế. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là điểm đến đầu tư chiến lược của nhiều tập đoàn đa quốc gia và đang dần vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các nhà đầu tư của Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản luôn xem Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng là đối tác đầu tư chiến lược để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong những năm qua, số lượng dự án từ 03 quốc gia trên liên tục tăng và luôn ở nhóm dẫn đầu về số dự án cũng như vốn đầu tư. Quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa Hàn Quốc và ASEAN, Chính sách hướng Nam mới của Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và tiềm năng phát triển của Việt Nam được cho là những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Hàn Quốc đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN nói chung và vào Việt Nam nói riêng. Ở châu Á, Việt Nam đứng thứ hai (sau Trung Quốc) về thu hút vốn đầu tư từ Hàn Quốc. Lũy kế đến tháng 11/2019, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký trên 66,8 tỷ USD.
Năm là, xu hướng chuyển dịch nguồn vốn đầu tư. Trong những năm gần đây, dòng vốn đầu tư nước ngoài đang gia tăng dịch chuyển vào Việt Nam. Cuộc dịch chuyển này không chỉ do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, mà còn do nỗ lực cải cách môi trường đầu tư - kinh doanh và việc thực hiện Hiệp 17 định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Dòng vốn đầu tư dịch chuyển khỏi thị trường Trung Quốc thì Việt Nam được xem là một lựa chọn hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam cũng tăng mạnh do tác động của xung đột thương mại Mỹ - Trung và việc tăng trưởng kinh tế suy giảm đã khiến Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư sang Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc đứng vị trí thứ 3 trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,29 tỷ USD, chiếm 12,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nội dung cơ bản QLNN về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, Chính phủ hoạch định chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm định hướng và làm cơ sở để các địa phương xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội theo địa bàn lãnh thổ, trong đó có kế hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế đối ngoại.
Tùy vào đặc điểm và tình hình thực tiễn của mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, Nhà nước cần linh hoạt điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư cho phù hợp, đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng đồng thời phải phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế, có tính cạnh tranh, hấp dẫn các nhà đầu tư FDI. Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước lập quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng… trong đó, đặc biệt quan trọng là quy hoạch các khu công nghiệp. Đây chính là cơ sở để phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng – kinh tế - kỹ thuật các khu công nghiệp nhằm thu hút các nhà đầu tư FDI đến đầu tư. 18 Nhà nước định hướng và điều tiết hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các công cụ, chiến lược, mục tiêu, chương trình, kế hoạch, quy hoạch.
Chức năng QLNN trước hết thể hiện ở việc xác định đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, từ đó xác định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở chiến lược phát triển dài hạn và kế hoạch trong từng thời kỳ xây dựng các phương án, mục tiêu, chương trình hành động quốc gia, quy hoạch và kế hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế. Từ đó tiến hành quy hoạch thu hút các nguồn vốn cho việc thực hiện các phương án, mục tiêu, chương trình quốc gia. Công tác định hướng của nhà nước đối với việc thu hút FDI được cụ thể hoá bằng việc xây dựng danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, xác định các lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu tiên thu hút FDI.
Để đạt được mục tiêu định hướng thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu tiên thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, nhà nước cần vận dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Xây dựng quy hoạch theo từng ngành, từng sản phẩm, từng địa phương trong đó có quy hoạch thu hút FDI phải dự trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế đất nước. Từ đó xác đinh danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, ban hành các định mức kinh tế kĩ thuật, chuẩn mực đầu tư. Ngoài ra, Nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo và định hướng.
Dự báo bao gồm dự báo tình hình thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động, thị trường vốn trong và ngoài nước, xu hướng phát triển, tình hình cạnh tranh trong khu vực và thế giới, chính sách thương mại của các chính phủ. Qua đó, định hướng hoạt động thu hút đầu tư FDI thông qua hệ thống chính sách, pháp luật. Đồng thời, Nhà nước bảo hộ, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thu hút và quản lý hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo thẩm quyền luật định và xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhằm tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo và khuyến khích FDI định hướng theo chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được nhà nước quản lý bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ quản lý khác. Nhà nước đóng vai trò điều hành kinh tế vĩ mô (định hướng, điều tiết, hỗ trợ) nhằm phát huy các mặt tích cực và ngăn ngừa các mặt tiêu cực của hoạt động FDI. Các nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nước ngoài hoạt động ở Việt Nam mang tư cách pháp nhân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Do vậy, các định hướng kinh tế quan trọng đối với hoạt động FDI để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế của đất nước cần được thể hiện thông qua các quyết định của luật pháp, chính sách của nhà nước.
Khi luật pháp, chính sách được xây dựng đúng đắn, phù hợp, công tác chỉ đạo điều hành thực thi nghiêm túc thì sẽ đạt được các định hướng và mục tiêu quản lý của nhà nước đối với hoạt động FDI.