Chương 1, tác giả đã nêu tính cần thiết của đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước Đông Nam Á và ý nghĩa của nghiên cứu là giúp các nhà hoạch định chính sách có các điều chỉnh chính sách phù hợp để tăng dòng vốn FDI. Ngoài ra, tác giả cũng đã đặt ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu định lượng với dữ liệu thứ cấp và hồi quy với mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI. Đã có rất nhiều nghiên cứu để tìm ra các yếu tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI với các kết quả khác nhau. Hiep và Hung (2014) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI trong thời gian từ 1991 đến 2009 tại các nước ASEAN gồm: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Philippine và Singapore. Các yếu tố bao gồm: Độ lớn thị trường: Các tác giả này đã sử dụng tổng sản phẩm quốc nội – GDP của các quốc gia nói trên để biểu thị cho độ lớn của thị trường.
Độ mở thương mại: Các tác giả sử dụng tỷ lệ giữa tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP của từng quốc gia. Chi phí lao động: Tác giả sử dụng chỉ số mức thu nhập bình quân của người lao động tại mỗi quốc gia. Vốn con người: Tác giả sử dụng tỷ lệ giữa công nhân được đào tạo kỹ năng so với tổng số lao động của một quốc gia. Năng suất lao động: Tác giả sử dụng tỷ lệ giữa GDP của từng quốc gia với lực lượng lao động của quốc gia đó.
Đó chính là giá trị GDP mỗi người lao động làm ra. Rủi ro chính trị: Các tác giả đã sử dụng chỉ số ổn định thể chế được công bố bởi The ICRG (International Country Risk Guide) để biểu thị cho biến nghiên cứu này. Tham nhũng: Các tác giả đã sử dụng chỉ số tham nhũng được công bố bởi The ICRG (International Country Risk Guide) để biểu thị cho biến nghiên cứu này. Theo đó, nếu một quốc gia có được đánh giá điểm số tăng chứng tỏ quốc gia đó được kiểm soát tham nhũng tốt hơn.
Lạm phát: Các tác giả đã sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) làm đại diện cho biến lạm phát. Lãi suất: Được biểu thị bằng lãi suất thực. Sự phát triển tài chính: Được biểu thị bằng tỷ lệ tín dụng do các ngân hàng thương mại trong nước cung cấp so với GDP của một quốc gia. 6 Tỷ giá hối đoái: Được sử dụng là tỷ giá bình quân một năm được tính toán bởi Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Cơ sở hạ tầng: Các tác giả sử dụng số điện thoại di động và cố định trên 100 dân để biểu thị cho chỉ số này. Kết quả thực nghiệm cho thấy độ lớn thị trường có tác động mạnh đến việc thu hút dòng vốn đầu trực tiếp nước ngoải. Các yếu tố khác như độ mở thương mại, vốn con người, năng suất lạo động, chi phí lao động, sự ổn định thể chế chính trị, tham nhũng, cơ sở hạ tầng là các yếu tố chính tác động đến FDI. Nghiên cứu chưa tìm thấy sự tác động của các yếu tố lãi suất thực, lạm phát và sự phát triển của thị trường tài chính đến việc thu hút dòng vốn FDI.
Narayanamurthy và cộng sự (2010) đã dùng các yếu tố là độ lớn của thị trường, tiềm năng phát triển và thể chế kinh tế, chi phí nhân công, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại, giá trị tiền tệ, tỷ lệ đầu tư trong nước so với GDP, dữ liệu từ năm 1975 đến 2007 của các quốc gia mới nổi (BRICS) bao gồm: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn FDI. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lạm phát và tiềm năng phát triển của nền kinh tế nước sở tại có tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI. Nó cho thấy sự ổn định trong chính sách điều hành kinh tế được đánh giá cao và do đó thu hút được dòng vốn FDI. Tương tự như vậy, kết quả cho thấy sự ổn định của tỷ giá cũng giúp thu hút được FDI nhưng với mức độ yếu.
Tuy nhiên, độ mở của thị trường lại không có ý nghĩa thống kê nghĩa là tác giả đã không tìm thấy sự tác động của yếu tố độ mở thị trường đến việc thu hút dòng vốn FDI. Thật vậy, một thời gian dài, các quốc gia mới nổi dưới áp lực phải trở thành những đầu tàu của nền kinh tế thế giới (như Trung Quốc) đã phải đánh đổi rất nhiều yếu tố khác như ô nhiễm môi trường, khí thải, trở thành bãi rác công nghệ, …. để đổi lấy dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những thách thức sau đó mà các quốc gia này phải đối mặt lại khá lớn như tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các xáo trộn về đời sống kinh tế xã hội của người dân trong nước dẫn đến các bất ổn về xã hội, chính trị, ….
đã cản trở việc thu hút dòng vốn FDI, làm nản lòng các nhà đầu tư khi chi phí lao động tại các quốc gia này bắt đầu 7 tăng cao, các rào cản về kỹ thuật để ngăn chặn sự thâm nhập của công nghệ lạc hậu, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật trong nước, … đã hạn chế việc thu hút dòng vốn FDI. Boateng và cộng sự (2015) bằng nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố vĩ mô tác động đến FDI, với dữ liệu từ 1986 đến 2009 chỉ ra rằng GDP thực, độ mở thị trường và tỷ giá hối đoái có tác động đến dòng vốn FDI vào Na Uy, lạm phát và lãi suất tăng có tác động ngăn chặn dòng vốn đầu tư. Kết quả về tỷ giá cũng phù hợp với nghiên cứu của Hanusch và cộng sự (2018) nghiên cứu tác động của biến động tỷ giá đến FDI, phân tích dữ liệu bảng của 80 quốc gia từ năm 1990-2015 và đưa ra kết luận nếu tỷ giá giảm 10% sẽ làm FDI tăng 0.48 điểm phần trăm so với GDP. Sinha và cộng sự (2019) cũng tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ giá và FDI khi nghiên cứu dữ liệu của các quốc gia đang phát triển tại Châu Á.
Ang (2008) nghiên cứu các yếu tố tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp vào Malaysia. Bằng việc phân tích dữ liệu chuỗi thời gian từ 1960 đến 2005 cũng đã dùng các biến như: độ lớn của thị trường được biểu thị bằng GDP, sự phát triển thị trường tài chính được đo lường bằng tỷ lệ giữa tín dụng do khu vực tư nhân cung cấp so với GDP, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm. Biến sự phát triển cơ sở hạ tầng được đo lường bằng tỷ lệ chi tiêu của chính phủ đầu tư cho giao thông và viễn thông. Biến độ mở thị trường cũng được đo lường bằng tỷ lệ giữa giá trị xuất nhập khẩu so với GDP.
Các biến còn lại là tỷ giá hối đoái thực, thuế suất và sự mất ổn định của kinh tế vĩ mô. Kết quả thực nghiệm cho thấy GDP và tốc độ phát triển GDP có tác động tích cực đến việc thu hút dòng vốn FDI. Sự phát triển thị trường tài chính, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại cũng có vai trò tích cực thu hút FDI. Thuế suất cho doanh nghiệp cao và tỷ giá hối đoái thực cao sẽ ngăn cản dòng vốn FDI.
Nhưng có một điều đặc biệt là sự không ổn định kinh tế vĩ mô lại có tác dụng thu hút FDI. Krzysztof và Liwiusz (2016) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của liên minh bốn nước Trung Âu gồm Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan và Slovakia (Visegrad Group contries - V4) trong giai đoạn 2000 - 2012. Kết quả nghiên cứu từ dữ liệu bảng cho thấy sự ổn định chính trị có tác động tích cực đến việc thu hút dòng vốn FDI nhưng nghiên cứu của Schneider 8 và Frey (1985), Edwards (1990) lại cho kết quả ngược lại và nghiên cứu của Hausman và Fernandez-Arias (2000) lại cho kết quả biến này không có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy yếu tố chính trị rất khác nhau ở từng quốc gia, khu vực.
Đặc biệt, nghiên cứu của Schneider và Frey (1985) đã sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia kém phát triển. Một sự thay đổi chính phủ, thể chế có thể là động lực thúc đẩy sự cải cách kinh tế và từ đó thu hút được dòng vốn đầu tư. Quan liêu, tham nhũng, tham quyền cố vị của các chính phủ tại các nước kém phát triển tuy thể hiện sự ổn định chính trị nhưng đó chính là sự cản trở lớn trong việc thu hút dòng vốn FDI. Kết quả nghiên cứu của Schneider và Frey (1985) khá tương đồng với thực tế này.
Nghiên cứu của Schneider và Frey (1985) cũng cho thấy chi phí lao động có tác dụng ngăn chặn đầu tư. Kết quả này phản ánh thực tế là dòng vốn FDI thường tìm kiếm những quốc gia, vùng lãnh thổ có chi phí nhân công giá rẻ để có giá thành sản phẩm thấp. Một khi chi phí nhân công tăng lên thì các nhà đầu tư sẽ xem xét việc dịch chuyển dòng vốn sang các quốc gia khác có chi phí nhân công rẻ hơn. Nghiên cứu của Schneider và Frey (1985) độ lớn thị trường cũng có tác dụng thu hút dòng vốn FDI.
Điều này trái ngược với nghiên cứu của Edwards (1990), Jaspersen và cộng sự (2000). Các nghiên cứu của Asiedu (2002), Loree và Guisinger (1995) không tìm thấy tác động của độ lớn thị trường lên dòng vốn FDI. Độ mở thương mại có vai trò thu hút đầu tư tương tự như nghiên cứu của Edwards (1990), Hausman và Fernandez- Arias (2000). Krzysztof và Liwiusz (2016), Leibrecht và Rieadl (2013) đều tìm thấy sự liên quan giữa chất lượng cơ sở hạ tầng và việc thu hút dòng vốn FDI.
Tham nhũng là một khoản thuế ngầm mà doanh nghiệp phải chịu đựng. Do đó, tham nhũng tác động đến dòng vốn FDI do nhà đầu tư thường xem xét rất cẩn thận yếu tố tham nhũng tại quốc gia sở tại trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Wei (2000) đã cho thấy có sự tác động của tham nhũng lên dòng vốn FDI khi nghiên cứu dòng vốn đầu tư của Mỹ và các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đến 45 quốc gia khác.