Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Cơ sở lý luận chung về FDI và thu hút FDI 1. Khái niệm FDI Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF, 1977,1993), Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Như vậy, FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với công ty phụ thuộc. Khái niệm của OECD (1996): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: - Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư. - Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
- Tham gia vào một doanh nghiệp mới. - Cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm) - Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. 123doc 10 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Ở điều 3 của luật đầu tư Việt Nam được Quốc Hội thông qua 11/2005 đã nêu rõ: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Thu hút FDI Nếu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, thì thu hút FDI là hoạt động vận động khuyến khích và chuẩn bị điều kiện để thực hiện FDI.
Trên cơ sở khái niệm này có một số điểm chính về thu hút FDI như sau: - Thu hút FDI là hoạt động để vận động các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một quốc gia hoặc một vùng hay một tỉnh. của quốc gia đó. - Việc thu hút này phải gồm rất nhiều biện pháp và phải có những bước đi thích hợp cũng như có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đó, từ công việc của các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp, chính quyền địa phương và chính quyền trung ương. - Thu hút FDI có thể dưới các hình thức chủ động và bị động.
Các hình thức thu hút FDI chủ động xảy ra khi các đơn vị của quốc gia đang hoạt động trong việc tìm kiếm đối tác kinh doanh; thuyết phục các nhà đầu tư đầu tư vào Việt Nam và các địa phương; xây dựng hành lang pháp lý để khuyến khích dòng vốn FDI vào các ngành công nghiệp, lĩnh vực và các ngành kinh tế có nhu cầu thu hút đầu tư. 123doc 11 Các hình thức thu hút thụ động khác nhau từ một thực thể chủ động thành chờ đợi thụ động các đối tác, sau đó giới thiệu và đề nghị các nhà đầu tư về những thuận lợi và điểm đến để giúp họ quyết định nơi để đầu tư vào. Các hình thức FDI FDI có thể được phân loại dựa trên quan điểm của nhà đầu tư (hoặc nước đi đầu tư) hoặc của nước sở tại. Từ góc nhìn của các nhà đầu tư, Caves (1971) FDI được chia thành 3 loại: • Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau.
• Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác. • Công ty đa quốc gia “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc. Theo Helpman (1984) chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia có mục đích tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí sản xuất như vận tải, thuế chi tiêu…Vì vậy, họ sẽ chia hoạt động sản xuất ở nhiều nước trên thế giới. Ở giai đoạn sản xuất cần rất nhiều nhân lực có tay nghề, các hoạt động sản xuất được tổ chức tại các quốc gia có chi phí lao động thấp.
Trong trường hợp này, các quốc gia này sẽ nhập khẩu trung gian hàng hóa như máy móc từ các công ty đa quốc gia và xuất khẩu sản phẩm đã hoàn thành. Các hình thức FDI nêu trên được gọi là FDI theo chiều dọc. Với quan điểm đầu tư - nước tiếp nhận FDI có thể được phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu, FDI tăng xuất khẩu và FDI bằng nỗ lực của chính phủ. • FDI thay thế nhập khẩu liên quan đến sản xuất sản phẩm được nhập khẩu từ nước đi đầu tư.
Việc này làm giảm nhập khẩu của các quốc gia và giảm xuất khẩu của các nước đầu tư. Hình thức này phụ thuộc vào kích thước của thị trường đầu tư của nước tiếp nhận, chi phí vận chuyển, và các rào cản thương mại. • Hình thức thứ hai được khuyến khích vì mong muốn tìm kiếm đầu vào mới cho sản xuất như nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian. FDI cũng được phân 123doc 12 loại dựa trên cách mở rộng khai thác ưu điểm của đầu tư tại nước tiếp nhận để tăng doanh thu đầu tư.
Bên cạnh đó, FDI tìm kiếm cho nguồn lao động giá rẻ tại nước tiếp nhận để giảm chi phí sản xuất. Mở rộng FDI bị ảnh hưởng bởi lợi thế của các công ty hoạt động trong nước của các nhà đầu tư như: quy mô doanh nghiệp, tập trung nghiên cứu và phát triển (R&D) và khả năng sinh lợi của lợi thế công nghệ. • FDI bằng nỗ lực của chính phủ: là sự trợ cấp đầu tư theo quy định của nước sở tại, tạo công ăn việc làm, rút ngắn sự chênh lệch giữa các khu vực tiếp nhận, cũng như giảm thâm hụt cán cân thanh toán (UNCTAD, 2002). Theo Luật đầu tư của Việt Nam, có các hình thức đầu tư trực tiếp như sau: - Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; - Doanh nghiệp liên doanh (A Joint Venture Enterpise) - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT, PPP.
- Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại công ty. Vai trò của FDI đối với địa phương - Vai trò của FDI trong đầu tư, phát triển kinh tế và phát triển nguồn nhân lực : Thực tế cho thấy rằng FDI làm tăng nguồn vốn của địa phương, việc thành lập các doanh nghiệp FDI tạo việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp và làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với việc đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, cần lượng nhân công lớn như dệt may, sản xuất giày dép. các doanh nghiệp FDI đóng góp tích cực vào công tác giải quyết việc làm cho người lao động địa phương.
Đặc biệt, lao động được doanh nghiệp FDI tuyển dụng thường có yêu cầu cao hơn và phải trải qua quá trình đào tạo mới có thể làm việc được. Điều đó góp phần nâng cao trình độ tay nghề chung của nguồn nhân lực trong tỉnh. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước ngoài đến với An Giang đa số đầu tư vào ngành công nghiệp sẽ góp phần làm gia tăng tiềm lực công nghiệp của tỉnh, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa bằng cách tăng tỉ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP. Không những 123doc 13 thế, thông qua việc hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp của địa phương sẽ có cơ hội tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế;.
nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Có thể khẳng định, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là giải pháp giúp cải thiện những khó khăn về nguồn vốn đầu tư, khai thác các tiềm năng sẵn có và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. - Vai trò của FDI trong sự tăng trưởng của xuất nhập khẩu: Có thể thấy rằng nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu. Có thể thấy việc lựa chọn địa điểm đầu tư rất quan trọng đối với các doanh nghiệp FDI. Việc tìm kiếm địa điểm đầu tư chủ yếu phục vụ các mục đích: Tìm kiếm thị trường tiêu thụ và tối đa hóa lợi thế về chị phí.
Do đó, các doanh nghiệp FDi phục vụ cho mục đích tìm kiếm, khai thác nguồn nhân lực tại các nước sở tại. Sau đó có thể xuất khẩu các sản phẩm với giá thành cạnh tranh. Hơn nữa đối với các doanh nghiệp FDI cần thiết nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất làm góp phần gia tăng trọng tỷ trọng xuất nhập khẩu của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng. Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI trong các nghiên cứu trước Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI (Ownership advantages – Locational advantages – Internalisation advantages) Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI về đầu tư trực tiếp nước ngoài được phát triển bởi John Dunninng (1977).
Học thuyết này kế thừa tất cả những ưu điểm của các học thuyết khác về FDI.