CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về quyền và bảo đảm quyền của người lao động Quyền và bảo đảm quyền của người lao động là vấn đề đã được các nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm, nghiên cứu chuyên sâu từ lâu [48], [50], [62], [78], [90], [91]. Các cuốn sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” Tập 1(2010), “Quyền con người” (2011) và “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hội” do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên đã xem xét những vấn đề lý luận về quyền con người nói chung trong đó có quyền của. Các tác giả khẳng định: “Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày nay” [78; tr7].
Với tầm quan trọng đó, quyền con người được tiếp cận theo hướng đa ngành, liên ngành để tạo nên hệ thống tri thức lý luận tổng hợp về quyền và bảo đảm quyền con người nói chung trong đó có NLĐ. Các tác giả của cuốn “Quyền con người trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” (2014) PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn chủ biên, NXB Lý luận chính trị, phân tích những vấn đề lý luận về quyền con người gắn với điều kiện, đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình hội nhập quốc tế, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội ở Việt Nam và những ảnh hưởng, tác động của nó đến quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuốn sách “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam” (2013) do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ biên, NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm và xác định bảo đảm quyền của NLĐ nhằm chống lại nguy cơ bị bóc lột, đối xử bất công, phải lao động trong những điều kiện không đảm bảo. Đồng thời phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế trong việc bảo vệ quyền việc làm, 8 luan an quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống, quyền được tôn trọng tính mạng, danh dự, nhân phẩm.
Cuốn “Doanh nghiệp và quyền con người - Một số vấn đề cơ bản” (2017) NXB Tri thức, các tác giả xem xét, phân tích các chuẩn mực, thể chế, sáng kiến quốc tế về doanh nghiệp và quyền con người trong doanh nghiệp; các nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ quyền của nhà nước và doanh nghiệp. Bài báo “Globalisation, the development of constitutionalism and the individual employee” của K Calitz (Toàn cầu hóa, sự phát triển của chủ nghĩa hợp hiến và người lao động cá nhân) đã xem xét những vấn đề lý luận liên quan đến NLĐ cá nhân như quyền lập hội, quyền được đối xử công bằng, khẳng định những quyền này dành cho cả NLĐNN và NLĐ bản xứ đồng thời nhấn mạnh vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền của NLĐNN. Bài báo đặt ra vấn đề là hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng trong các HĐLĐ quốc tế? Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra khái niệm, đặc trưng, tính chất về quyền con người. Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ tiếp cận ở góc độ quyền con người nói chung trong đó có quyền của người lao động hoặc quyền của người lao động dưới khía cạnh luật Lao động mà chưa tiếp cận khái niệm bảo đảm quyền của NLĐ dưới góc độ pháp luật kinh tế.
Các nghiên cứu về cơ chế bảo đảm quyền của NLĐ nói chung và quyền của NLĐ trong DN FDI Bảo đảm và bảo vệ quyền cũng là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu quan tâm phân tích dưới góc độ quyền con người nói chung trong đó có quyền của người lao động. Theo đó, cơ chế là “cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [82; tr. Bảo vệ quyền của NLĐ chính là việc bảo vệ con người, không thể giới hạn trong phạm vi để được tồn tại nguyên vẹn mà phải tính đến mọi mặt đời sống, với tất cả nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội, điều kiện phát triển về vật chất và tinh thần, cũng như những giá trị nhân thân của họ. Do đó, “bảo vệ người lao động là phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại danh dự, nhân phẩm, 9 luan an thân thể, quyền và lợi ích của người lao động, từ phía người sử dụng lao động, trong quá trình lao động” [50].
Cuốn sách “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” (Phụ lục 1: Các cơ quan nhân quyền quốc gia được thành lập ở các nước trên thế giới khuyến cáo của Liên hợp quốc trong vòng 30 năm qua), (2011), NXB Khoa học xã hội do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên đã nghiên cứu tổng thể các cơ chế bảo vệ quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam. Các tác giả đã phân tích nội dung, nguyên tắc vận hành, so sánh giữa các cơ chế để chỉ ra những ưu việt và những hạn chế từng cơ chế, từ đó đưa ra những giải pháp, những kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền con người [81;tr.219,220] Tuy nhiên, do các công trình này tập trung nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung nên các nhận xét, đánh giá, kết luận khoa học chủ yếu về bảo vệ quyền cơ bản của con người nên nghiên cứu về bảo vệ quyền của NLĐ, đặc biệt là NLĐ trong DN FDI ở Việt Nam hiện nay chưa được đề cập nhiều. Cuốn “Thực hiện các quyền Hiến định” (2015) của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà nội do PGS.TS Trịnh Quốc Toản và PGS.TS Vũ Công Giao (đồng chủ biên), NXB Hồng Đức xem xét cơ chế bảo đảm thực thi các quyền con người ở Việt Nam thông qua các quy định của Hiến pháp năm 2013. Các tác giả khẳng định sự cần thiết phải tìm hiểu, phân tích các quy định liên quan trong luật pháp quốc tế, thực tiễn thực hiện tại các quốc gia trên thế giới cũng như của Việt Nam.
Cuốn sách “Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người” do TS. Vũ Văn Nhiên chủ biên lại xác định giám sát Hiến pháp là cơ chế đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động của Quốc hội được xác định cụ thể bằng việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền của Quốc hội như: bảo đảm quyền con người trong hoạt động lập pháp; bảo đảm quyền con người qua các hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động xây dựng và hoàn thiện bộ máy chuyên trách về quyền con người. 10 luan an Luận án Tiến sĩ “Cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam” (2008) của Nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Thu đã nhận định trong lĩnh vực lao động, cơ chế ba bên là một cơ chế thông dụng ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cơ chế ba bên tham gia trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về lao động, tổ chức và quản lý lao động cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh, kể cả giải quyết tranh chấp lao động và đình công. Ở các nước có nền kinh tế thị trường và quan hệ lao động chưa phát triển như Việt Nam thì cơ chế ba bên còn là vấn đề mới mẻ và đang từng bước được thực hiện, vai trò hoạt động của đại diện NLĐ chưa được đánh giá cao, tổ chức công đoàn còn ôm đồm, tham gia khá nhiều hoạt động chính trị, xã hội, làm phân tán nhiệm vụ trọng tâm; tính độc lập tương đối của tổ chức Công đoàn chưa đảm bảo, nhất là cơ cấu tổ chức, bố trí cán bộ… Luận án chủ yếu tiếp cận cơ chế ba bên trong quan hệ lao động đang xảy ra tranh chấp mà chưa tiếp cận ở ngữ cảnh khác, chẳng hạn xây dựng chính sách, pháp luật về lao động; bảo đảm quyền của người lao động.
Một số các nghiên cứu về cơ chế bảo đảm quyền của người lao động thông qua tổ chức công đoàn [17]; [32] cho rằng: không chỉ thể hiện sự tự bảo vệ quyền của NLĐ thông qua tổ chức đại diện lao động mà còn thể hiện khả năng thực thi quyền tự do công đoàn của NLĐ, một trong những quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực lao động. Tuy nhiên trên trên thực tế ở Việt Nam, tổ chức công đoàn hoạt động còn yếu kém, bị động, chưa thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho NLĐ trong tương quan quan hệ với NSDLĐ. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích, đánh giá cơ chế bảo đảm quyền con người nói chung trong đó có quyền của NLĐ. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu tiếp cận dưới góc độ NLĐ nói chung mà chưa hướng đến đối tượng NLĐ trong DN FDI.
Các nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm quyền của NLĐ chung và quyền của NLĐ trong DN FDI Biện pháp bảo đảm quyền của NLĐ nói chung và quyền của NLĐ trong DN FDI nói riêng có thể hiểu là những cách thức làm cho quyền của người lao động được 11 luan an đảm bảo trên thực tế, phù hợp với các tiêu chuẩn và chuẩn mực lao động. Nghiên cứu về vấn đề này là nội dung không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quyền của NLĐ [4], [15], [19], [33], [38], [61], [94]. Cuốn sách “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng” (2019), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội do Vũ Công Giao, Đinh Ngọc Thắng làm đồng chủ biên đã nhận định quyền con người trong hoạt động tố tụng có thể hiểu là quyền pháp lý của cá nhân, công dân, thông qua pháp luật Nhà nước trao cho họ những quyền pháp lý nhất định, những quyền pháp lý thường được ghi nhận trong Hiến pháp và luật để giúp họ có công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tránh các nguy cơ xâm phạm không đúng pháp luật từ phía cơ quan hoặc cá nhân đang thực thi pháp luật [61;tr.