CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CỦA LAOĐỘNGNÔNG THÔN 1. LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ NGUỒN LAO ĐỘNG Lao động Con người với sức lao động, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo… là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, bằng sức lao động và nỗ lực làm việc, con người sẽ sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.Mác : Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất cứ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là làm cho bản thân sự sống của con người.Ăng Ghen khẳng định rằng: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải”. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì đó vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: “Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người.
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài người. Từ xa xưa, con người đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao động sản xuất nói chung ấy được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và đóng góp của cải cho xã hội.
Lao động là một trong ba yếu tố tạo nên quá trình sản xuất và là yếu tố giữ vai trò quyết định. Dù trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ, quá trình sản xuất được tiến hành bằng máy móc và tự động hóa thì quá trình sản xuất vẫn phải được điều kiển bởi sức lao động của con người. 5 Trong quá trình lao động, con người với sức mạnh tiềm năng của cơ thể mình, sử dụng những công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên, khai thác những vật chất trong tự nhiên và sẽ biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích với đời sống bản thân và xã hội. Vì vậy, theo nghĩa chung nhất thì “Lao động là năng lực cả về thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình làm việc nhằm tạo ra lợi ích về kinh tế, văn hóa-xã hội”.
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ( theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55). Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhiều nhất trong quá trình lao động, nó phát động và đưa các tư liệu lao động vào hoạt động lao động để tạo ra sản phẩm. Nếu coi sản xuất là hệ thống gồm ba phần tạo thành (các nguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa) thì sức lao động là một trong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Dân số hoạt động kinh tế: Bao gồm những người thoả mãn các điều kiện làm việc (có việc làm) hoặc thất nghiệp trong tuần nghiên cứu.
Với thời kỳ nghiên cứu là một tuần (hay 7 ngày), dân số hoạt động kinh tế còn được gọi là lực lượng lao động. Dân số không hoạt động kinh tế: Bao gồm những người không phải là người có việc làm và cũng không phải là người thất nghiệp trong thời kỳ nghiên cứu. Dân số không hoạt động kinh tế là những người không làm việc và cũng không phải là người thất nghiệp trong tuần nghiên cứu. Những người này có thể được phân loại vào các nhóm như “học sinh, sinh viên”, “nội trợ gia đình mình”, “không thể làm việc do mất khả năng lao động”, “những người tàn tật”, "quá trẻ/quá già", và “những người khác”.
Nhóm “khác” bao gồm cả những người không cần hoặc không muốn đi làm do đã có nguồn tài trợ, trợ cấp của nhà nước hoặc tư nhân, 6 hoặc những người tự nguyện tham gia các công việc của tôn giáo/từ thiện (nhân đạo) hoặc các tổ chức tương tự khác, và tất cả những người khác không thuộc bất kỳ nhóm nào ở trên. (10) Lao động thoái chí: Là những người 1. LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM Khái niệm việc làm Việc làm có nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên vẫn có một quan điểm chung nhất là các hoạt động của con người để tạo ra của cải vật chất. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì?”.
Ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động ở mỗi người lao động. Nếu lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất của con người nói chung thì việc làm là lao động cụ thể của mỗi người lao động tham gia vào quá trình lao động xã hội chung đó.
Khái niệm việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động”. Ở trạng thái “ tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất - kỹ thuật khác nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá nhân, cộng đồng. Theo cách hiểu này, việc làm là khả năng làm tăng của cải của xã hội, tăng lợi ích cho dân cư và cộng đồng, là khả năng sử dụng nguồn nhân lực và là các hoạt động có ích. Theo nghĩa “động” việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng, trong khuôn khổ pháp luật cho phép: việc làm là hình thức vận dụng sức lao động, là hoạt động có chủ đích của con người, được tiến hành trong một không gian và thời gian nhất định với sự kết hợp các yếu tố giữa vật chất và kỹ thuật khác.
Theo khái niệm do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - 2009) đưa ra thì “việc làm được quan niệm là những hoạt động tạo ra nguồn thu nhập và không trái với pháp luật”. 7 Trong thực tế, khái niệm về việc làm thường nhấn mạnh ở hai điểm cơ bản, đó là thu nhập và tính hợp pháp của các hoạt động lao động. Ở Lào, Luật việc làm có nêu: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập, hợp pháp và không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Quốc hội, 2013) Điều 32, Chương 2, Luật Lao động ban hành ngày 24 tháng 12 năm 2013, như vậy, nội dung điều này cho thấy hai tiêu thức bắt buộc để xác định hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm ở Lào bao gồm tiêu thức về thu nhập và tính pháp lý của việc làm [4]. Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
Điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập và việc làm. Hoạt động đem lại thu nhập được lượng hóa dưới các dạng như: + Người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động. + Tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ + Đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình hoặc hộ gia đình quản lý. Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm, điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Lào trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm trong hay ngoài khu vực Nhà nước. Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức [17]. Hai tiêu chí đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như buôn lậu, trộm cắp, mại dâm… thì không được thừa 8 nhận là việc làm. Tuy nhiên, ở một số nước như Thái Lan thì mại dâm lại được thừa nhận là việc làm vì hoạt động này đáp ứng nhu cầu của một số nhóm người trong xã hội và đem lại thu nhập cho người bán dâm và hoạt động này được luật pháp bảo hộ, quản lý, được Bộ Y tế và các cơ quan quản lý sức khỏe của nước này theo dõi, kiểm tra sức khỏe định kỳ và cấp giấy phép hành nghề. Mặt khác, nếu căn cứ vào thu nhập đem lại cho người lao động thì có nhiều loại hoạt động có ích cho xã hội, gia đình cộng đồng nhưng không tạo ra thu nhập hoặc góp phần tạo ra thu nhập. Cụ thể, hai người cùng làm công việc nội trợ, người thứ nhất làm công việc nội trợ cho gia đình thì sẽ có ích cho gia đình người đó (vì gia đình không cần phải thuê người giúp việc và các thành viên trong gia đình có thể yên tâm đi làm việc kiếm tiền từ công việc bên ngoài) nhưng không được trả công, không tạo ra thu nhập nên không được coi là việc làm.
Người thứ hai cũng làm công việc nội trợ nhưng là làm giúp việc là gia đình khác và được trả công thì lại được coi là việc làm.