CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm Để hiểu được khái niệm FTA thế hệ mới, cần tìm hiểu trước tiên khái niệm về FTA và sau đó là yếu tố mới của các FTA để tạo nên thế hệ FTA mới.
Đối với khái niệm FTA, theo quan điểm truyền thống, đây là điều ước ký kết giữa ít nhất hai nước nhằm mục đích cắt giảm các hàng rào thương mại (như thuế quan, hạn ngạch, thủ tục hải quan, xác định trị giá hàng hóa, các hàng rào phi thuế quan khác) đồng thời thúc đẩy trao đổi, hợp tác thương mại giữa các nước này với nhau để hình thành một khu vực mậu dịch tự do giữa các bên5. FTA là một dạng của các thỏa thuận thương mại khu vực được Tổ chức Thương mại Thế giới (The World Trade Organization, WTO) điều chỉnh theo quy định của điều XXIV Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (The General Agreement on Trade and Tariffs, GATT) hay điều V của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (The General Agreement on Trade in Services, GATS)6. Các FTA điển hình theo khái niệm này là: FTA ASEAN (AFTA); FTA Trung Âu (CEFTA)… Trong khi đó, thuật ngữ “thế hệ mới”được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại và phạm vi điều chỉnh bởi các quy tắc thương mại đa biên hiện có. Nói cách khác, đây là các FTA hàm chứa các quy phạm thể hiện mức độ cam kết sâu và rộng hơn của các thành viên so với các tuy tắc của WTO.
Mức độ sâu và rộng của các cam kết phụ thuộc rất lớn vào quá trình đàm phán cũng như quyết tâm chính trị của các bên về thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và giải quyết các vấn đề mang tính chất phi thương mại nhưng lại có nhiều 5 Bùi Thành Nam, Các hiệp định thương mại tự do ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2016, tr. 6 Về các hiệp định thương mại khu vực, xem: WTO, “Regional Trade Agreements and the WTO”, tại: https://www.org/english/tratop_e/region_e/scope_rta_e. 8 ảnh hưởng đến hoạt động thương mại7. Có thể kể đến các FTA thế hệ mới như: EVFTA; CPTPP; Hiệp định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T- TIP)8; FTA Bắc Mỹ (NAFTA); các FTA ASEAN+1; FTA Australia-Hoa Kỳ (AUSFTA)… Các nội dung đã có trong các FTA trước đây và các hiệp định của WTO, nay được xử lý sâu sắc hơn trong các FTA “thế hệ mới”, như: thương mại hàng hóa, bảo vệ sức khỏe động vật và thực vật trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ (IPR) (với “TRIPS cộng” và “TRIPS siêu cộng”), tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, minh bạch hóa và chống tham nhũng, giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS)… Ví dụ: trong các FTA “thế hệ mới”, về thương mại hàng hóa, phần lớn hàng nhập khẩu sẽ được loại bỏ thuế quan; về thương mại dịch vụ và đầu tư, các cam kết đều cao hơn so với cam kết WTO9.
Bên cạnh đó, các FTA được coi là thuộc các FTA thế hệ mới còn vì có phạm vi điều chỉnh bao gồm các nội dung vốn được coi là “phi thương mại” như: lao động, môi trường, cam kết phát triển bền vững và quản trị tốt…10 Đây là các quy định chưa được điều chỉnh bởi các quy định của WTO và đang được đàm phán trong khuôn khổ của Vòng Doha. Việc đưa các nội dung này vào các FTA thế hệ mới cho thấy nhiều thành viên WTO muốn sử dụng các cơ chế hội nhập khu vực để giải quyết những bế tắc mà WTO gặp phải trong Vòng Doha. Ngoài các nội dung phi thương mại, các FTA “thế hệ mới” còn mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các lĩnh vực mới như: Đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển cũng như dành thời gian chuyển đổi hợp lý để nước đi sau có thể điều chỉnh chính sách theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của mình… Như vậy, “FTA thế hệ mới” là cụm từ để chỉ sự khác biệt với các FTA truyền thống, với phạm vi rộng hơn, nội dung vượt ra ngoài cam kết về thương mại, dịch vụ 7 WTO, World Trade Report 2011 – The WTO and Preferential Trade Agreements: From co-existence to coherence, Geneva, 2011, p. 72, xem tại: https://www.org/english/res_e/booksp_e/anrep_e/world_trade_report11_e.
8 Xem các thông tin về hiệp định này tại: https://ustr. Nguyễn Thanh Tâm, “Tổng quan về các FTA thế hệ mới”, xem tại: http://giaoducvaxahoi. 9 và đầu tư, nó bao gồm cả các quy định điều chỉnh các vấn đề về thể chế, pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ…11 Các FTA này khi có hiệu lực sẽ tác động rất mạnh tới tiến trình tự do hóa thương mại cũng như cải cách thể chế của các bên liên quan. Đặc điểm Vì các FTA thế hệ mới là các FTA, nên chúng cũng mang đầy đủ các đặc điểm của các FTA truyền thống.
Các đặc điểm chung này là: Về chủ thể, các FTA nói chung và FTA thế hệ mới nói riêng được ký kết bởi các chủ thể của công pháp quốc tế, nhất là từ các quốc gia và các tổ chức quốc tế; Về nội dung, các FTA đều tập trung vào vấn đề cắt giảm các rào cản thương mại, bao gồm việc giảm thuế về 0% ngay lập tức khi FTA có hiệu lực hoặc theo lộ trình; hạn ngạch thuế quan và các rào cản phi thương mại khác…; Về cơ sở pháp lý, việc đàm phán và ký kết các FTA tuân thủ một số quy định pháp lý quốc tế chung như Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế; điều XXIV của GATT, điều V của GATS…12 Tuy nhiên, so sánh với các FTA truyền thống, các FTA thế hệ mới có một số đặc điểm riêng như sau: - Mức độ tự do hóa thương mại (mở cửa) sâu hơn: Với tiêu chí “FTA tiêu chuẩn cao”, dù chưa kết thúc đàm phán, có thể chắc chắn rằng mức độ mở cửa của Việt Nam cũng như các đối tác trong các FTA này là rất sâu (xóa bỏ phần lớn các dòng thuế, mở cửa mạnh các ngành dịch vụ…) và rộng hơn nhiều so với WTO cũng như các FTA trước đây (trừ ATIGA)13. - Phạm vi cam kết rộng: Trong khi các FTA trước đây chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa, các FTA thế hệ mới có nội dung bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới chưa từng cam kết/mở cửa trước đây, ví dụ: doanh nghiệp 11 Vũ Văn Hà, “Vai trò của hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong thương mại quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, ngày 12/09/2017, xem tại: http://www.vn/Home/Nghiencuu- Traodoi/2017/46874/Vai-tro-cua-cac-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-the-he. 12 Xem thêm: Raj Bhala, Luật Thương mại quốc tế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tái bản lần thứ hai, 2001, Lexis Publishing, bản dịch tiếng Việt xuất bản bởi NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 519; Peter van den Bossche, The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials, second edition, Cambridge University Press, Cambridge, 2008, pp.
13 Nguyễn Nhâm, “FTA thế hệ mới: Từ góc nhìn hội nhập”, Tạp chí Cộng sản, 15/01/2015, xem tại: http://www.vn/Home/Binh-luan/2015/31427/FTA-the-he-moi-Tu-goc-nhin-hoi-nhap. 10 nhà nước, mua sắm chính phủ, lao động, môi trường… Nhiều cam kết trong các FTA thế hệ mới khi thực thi cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tiến hành nhiều cải cách về mặt thể chế, như các cam kết về minh bạch hóa, về hài hòa hóa pháp luật, gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về môi trường hay lao động… - Đối tác FTA lớn: Nhiều FTA thế hệ mới hiện được đề xuất bởi các nước phát triển như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu. Sự tham gia của các quốc gia này sẽ tạo nên một áp lực chính trị, kinh tế cần thiết đối với các quốc gia khác, nhất là các quốc gia đang phát triển, trong quá trình thực thi các cam kết sâu và rộng trong FTA thế hệ mới. Do đó, sự tham gia của Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu không chỉ tạo ra cơ hội lớn hơn cho các doanh nghiệp của các quốc gia khác trong việc tiếp cận thì trường rộng lớn, có sức mua và tiêu thụ vượt trội mà tạo nên những cải cách bên trong của các quốc gia đó14.
Lịch sử hình thành và phát triển của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 1. Cơ sở pháp lý cho sự hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Các quy định của WTO về FTA xuất hiện trong điều XXIV GATT áp dụng với thương mại hàng hoá; Điều khoản cho phép năm 1979 áp dụng cho các thỏa thuận khu vực liên quan đến các nước đang phát triển; Điều V và Điều Vbis GATS áp dụng với thương mại dịch vụ. Đồng thời, Điều 23 DSU cũng đưa ra các giới hạn về việc sử dụng các điều khoản của hiệp định này đối với các tranh chấp trong phạm vi FTA. Theo EVFTA, hiệp định này được đàm phán dựa vào một số căn cứ như: - Những nguyên tắc và giá trị chung được phản ánh trong Hiệp định khung về đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam-EU (PCA)năm 2012.
Đây là hiệp định có phạm vi tự do hóa thương mại rất rộng. - Cam kết của Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945. - Các nguyên tắc được ghi nhận trong Tuyên bố nhân quyền toàn cầu năm 1948. Bùi Thành Nam, sđd, tr.
14 11 - Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định và thỏa thuận song phương, khu vực và các hiệp định đa phương khác mà các bên là thành viên.- Thiết lập Khu vực thương mại tự do nêu rõ: “Các bên ký kết Hiệp định này cùng thiết lập một Khu vực thương mại tự do phù hợp với Điều XXIV GATT 1994 và Điều V GATS”. Trong khi đó, TPP chỉ nêu ra Hiệp định thành lập WTO với tư cách là một cơ sở pháp lý của Hiệp định.1 - Thiết lập Khu vực thương mại tự do được quy định giống hệt như Điều 1.1 EVFTA nêu trên. Đứng dưới góc độ câu chữ của Điều 1.1 của EVFTA và TPP, Điều XXIV GATT 1994 và Điều V GATS được ghi nhận là cơ sở pháp lý của hai FTA “thế hệ mới” này.