chương 1 tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài), mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chủ yếu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (đóng góp mới của đề tài nghiên cứu). Để có cơ sở phân tích đánh giá thực trạng của công tác quản lý, phát triển BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn Quận 6. Chương tiếp theo tác giả sẽ nghiên cứu, giới thiệu về BHXH, BHXH tự nguyện, BHYT để làm nền tảng cho nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH, BHXH TỰ NGUYỆN 2.1 Tổng quan về BHXH, BHXH TN 2.1 Khái niệm về BHXH, BHXH TN BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu. Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999). “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.
Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”. * Khái niệm phí bảo hiểm xã hội Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): “Phí BHXH là khoản tiền đóng góp hàng tháng hoặc định kỳ của những người tham gia BHXH cho Quỹ bảo hiểm xã hội 9 * Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội Cũng theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): “Trong kinh tế thị trường, Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm”.
* Khái niệm trợ cấp bảo hiểm xã hội Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ Quỹ BHXH được cơ quan hay tô chức BHXH chi trả cho người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm và có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật BHXH. Trợ cấp BHXH có nhiều loại như trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn, trợ cấp dài hạn (Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến, 1998). * Khái niệm người lao động Quy định tại Điều 6 Bộ Luật Lao động của Quốc hội (1994), “Người lao động là người từ đủ 15 tuôi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.2 Những quy định cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam Luật bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 đã dành chương IV (từ Điều 69 đến Điều 79), mục 2 chương VI (từ Điều 98 đến Điều 101) và một số điều khoản có liên quan để quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Những quy định này chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành chế độ BHXH TN chính thức ở nước ta (Chính phủ, 2006).
i) Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện Quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN là công dân Việt Nam trong độ tuôi lao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới tháng; Cán bộ không chuyên trách cấp xã, ở thôn và tô dân phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp 10 hợp tác xã; Người lao động tự tạo việc làm; Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH BB hoặc đã nhận BHXH một lần (Chính phủ, 2007). ii) Quyền và trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện * Quyền của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN có các quyền sau đây: Được cấp sô bảo hiểm xã hội; Nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH TN đầy đủ, kịp thời, thuận tiện theo quy định; Hưởng bảo hiểm y tế khi đang hưởng lương hưu; Yêu cầu tô chức BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH; Khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc tô chức, cá nhân thực hiện BHXH tự nguyện có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH; Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp BHXH tự nguyện. * Trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định; Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ BHXH TN; Bảo quản sô bảo hiểm xã hội theo đúng quy định (Chính phủ, 2007). iii) Phương thức đóng và mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện * Phương thức đóng: Người tham gia BHXH tự nguyện được đăng ký với tô chức BHXH theo một trong 3 phương thức là: Đóng hàng tháng; đóng hàng quý; đóng 6 tháng một lần.
Trường hợp đóng hàng tháng thì đóng trong thời hạn của 15 ngày đầu; đóng hàng quý thì đóng trong thời hạn của 45 ngày đầu và đóng 6 tháng một lần thì đóng trong thời hạn của 3 tháng đầu. * Mức đóng BHXH TN hàng tháng (cho mỗi tháng): Mức đóng BHXH hàng tháng của người tham gia BHXH TN bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXH TN (X) với mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH của người tham gia BHXH TN lựa chọn. 11 * Tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện: Từ tháng 01/2008 – 12/2009 = 16%; Từ tháng 01/2010 – 12/2011 = 18%; Từ tháng 01/2012 – 12/2013 = 20%; Từ tháng 01/2014 trở đi = 22%. * Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH TN của người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn (gọi tắt là Mức thu nhập tháng): thấp nhất bằng lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung.
Mức thu nhập tháng = Lmin + m × 50. * Đăng ký lại phương thức đóng BHXH tự nguyện: Người tham gia BHXH TN được đăng ký lại phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH với tô chức BHXH nhưng ít nhất là sau 6 tháng kể từ lần đăng ký trước (Chính phủ, 2007).3 Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện i) Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với cá nhân người lao động và gia đình Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tang lên, khi về già hết tuôi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013).
Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation, 2013). ii) Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với xã hội Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.
Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho 12 chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ôn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.
Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”.