Đồ án tốt nghiệp: Phân tích nguyên nhân lũ lụt và giải pháp phòng tránh tại tỉnh Đồng Tháp, ĐBSCL - ĐH Công nghệ TP.HCM

Phân tích nguyên nhân lũ lụt tại Đồng Tháp và các giải pháp phòng tránh hiệu quả. Tìm hiểu biện pháp ứng phó, quy hoạch hạ tầng và bảo vệ tài nguyên nước.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2018

161
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng ngập lụt tại Đồng Tháp

Đồng Tháp là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tỉnh nằm trong vùng ngập lũ tự nhiên của sông Mekong. Địa hình bằng phẳng, cao độ phổ biến chỉ từ 1,0 đến 2,0 mét. Hệ thống sông Tiền, sông Hậu và kênh rạch chằng chịt bao quanh. Vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về. Lượng nước này kết hợp với mưa lớn cục bộ gây ra ngập lụt. Tình trạng này diễn ra hàng năm, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất. Các yếu tố tự nhiên như địa hình thấp và thủy văn phức tạp là nguyên nhân cơ bản.

1.1. Đặc điểm địa hình và thủy văn của tỉnh

Địa hình Đồng Tháp có hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khu vực ven sông Tiền, sông Hậu có cao độ cao hơn. Vùng trung tâm Đồng Tháp Mười có địa hình trũng, lòng máng. Cao độ phổ biến ở đây rất thấp, chỉ khoảng 0,90 đến 1,30 mét. Hệ thống kênh rạch dày đặc, tạo thành mạng lưới thoát nước tự nhiên nhưng cũng là đường dẫn lũ. Thủy văn chịu ảnh hưởng mạnh từ chế độ dòng chảy mùa của sông Mekong.

1.2. Vai trò của lưu vực sông Mekong và ĐBSCL

Đồng Tháp nằm trong lưu vực sông Mekong hạ lưu. Lưu vực này có diện tích rộng lớn, trải qua nhiều quốc gia. Ủy hội sông Mekong (MRC) là tổ chức hợp tác quản lý nguồn nước. Biển Hồ (Tonle Sap) ở Campuchia đóng vai trò điều tiết tự nhiên quan trọng. Nó hút nước lũ từ sông Mekong vào mùa mưa và xả ra mùa khô. Tuy nhiên, sự phát triển thượng nguồn đã thay đổi dòng chảy. Các đập thủy điện làm giảm phù sa và thay đổi mùa lũ.

II. Phân tích nguyên nhân gây ra lũ lụt ở Đồng Tháp

Nguyên nhân gây lũ lụt ở Đồng Tháp gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Yếu tố tự nhiên bao gồm lượng mưa lớn và dòng chảy mùa từ thượng nguồn Mekong. Địa hình trũng thấp của vùng Đồng Tháp Mười khiến nước thoát chậm. Yếu tố nhân tạo ngày càng gia tăng. Việc xây dựng đê bao, đập thủy điện ở thượng nguồn làm thay đổi dòng chảy. Nạn phá rừng đầu nguồn làm giảm khả năng giữ nước. Quy hoạch đô thị và phát triển hạ tầng chưa đồng bộ cũng gây ngập cục bộ. Biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng, tăng tần suất mưa cực đoan. Tất cả tạo nên áp lực kép lên hệ thống thoát nước tự nhiên.

2.1. Nguyên nhân do biến đổi khí hậu và thủy văn

Biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng mưa lớn tập trung hơn. Mực nước biển dâng cản trở quá trình thoát nước của các sông trong tỉnh. Chế độ dòng chảy mùa của sông Mekong bị ảnh hưởng bởi hoạt động xây đập thượng nguồn. Các đập này trữ nước mùa mưa, xả nước mùa khô, làm thay đổi mùa lũ tự nhiên. Lượng phù sa bồi đắp cho ĐBSCL giảm đáng kể. Điều này ảnh hưởng đến độ phì nhiêu và khả năng chống chịu của đất.

2.2. Nguyên nhân do tác động của con người

Con người xây dựng đê bao khép kín để bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Việc này làm thu hẹp diện tích trữ nước tự nhiên. Khi nước lũ lên cao, áp lực lên hệ thống đê bao rất lớn, dễ vỡ. Nạn khai thác cát trên sông làm thay đổi lòng dẫn, gây sạt lở. Quy hoạch xây dựng đô thị lấn chiếm kênh rạch, vùng thoát nước. Hệ thống cống, cống ngăn triều đôi khi hoạt động không hiệu quả. Rác thải cũng gây tắc nghẽn dòng chảy.

III. Phân tích hiện trạng các giải pháp phòng tránh lũ lụt

Đồng Tháp và vùng ĐBSCL đã triển khai nhiều giải pháp phòng tránh lũ. Giải pháp công trình bao gồm hệ thống đê bao, cống ngăn lũ, trạm bơm tiêu úng. Các công trình này giúp kiểm soát nước, bảo vệ khu dân cư và đất canh tác. Giải pháp phi công trình bao gồm quy hoạch sử dụng đất, hệ thống cảnh báo sớm. Việc áp dụng mô hình sản xuất thích nghi như ‘‘tôm - lúa’’ cũng là giải pháp. Tuy nhiên, nhiều công trình đã xuống cấp. Việc đầu tư, nâng cấp còn chậm. Sự phối hợp quản lý giữa các địa phương và với Campuchia vẫn là thách thức.

3.1. Các giải pháp công trình thủy lợi hiện có

Hệ thống đê bao bao quanh nhiều khu vực sản xuất và dân cư. Các cống lớn được xây dựng để ngăn nước lũ tràn vào và tiêu nước. Trạm bơm công suất lớn được lắp đặt để tiêu úng cho vùng trũng. Kênh mương nội đồng được nạo vét để tăng khả năng dẫn nước. Các công trình này phát huy tác dụng trong mùa lũ thông thường. Tuy nhiên, trước lũ lịch sử, nhiều đê bao bị vỡ, gây thiệt hại nặng nề.

3.2. Các giải pháp phi công trình và quản lý

Địa phương đã lập bản đồ ngập lụt để quy hoạch dân cư. Hệ thống cảnh báo lũ được trang bị, cung cấp thông tin đến người dân. Các mô hình nhà chống lũ, sàn né lũ được khuyến khích xây dựng. Chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với mùa lũ. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống thiên tai được đẩy mạnh. Hợp tác quốc tế trong quản lý nguồn nước Mekong cũng là giải pháp quan trọng.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tế

Lũ lụt ở Đồng Tháp là kết quả của nhiều nguyên nhân phức tạp. Giải pháp cần tiếp cận tổng thể, kết hợp công trình và phi công trình. Cần nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê bao, cống cho phù hợp. Quy hoạch phát triển phải tính đến không gian thoát nước và trữ lũ. Ứng dụng công nghệ trong dự báo, giám sát mực nước là cần thiết. Mô hình sản xuất ‘‘sống chung với lũ’’ cần được nhân rộng. Sự hợp tác quốc tế về quản lý lưu vực sông Mekong mang tính quyết định. Các giải pháp phải đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ sinh kế người dân.

4.1. Định hướng phát triển hạ tầng thủy lợi bền vững

Tương lai cần đầu tư hệ thống đê bao ‘‘mềm’’, có vùng trữ lũ. Các công trình cống, trạm bơm phải được nâng cấp theo biến đổi thủy văn mới. Quy hoạch xây dựng phải tôn trọng hành lang thoát lũ tự nhiên. Ứng dụng vật liệu mới, công nghệ xây dựng thân thiện môi trường. Mục tiêu là giảm thiểu tác động của lũ nhưng vẫn giữ được phù sa màu mỡ. Hạ tầng phải linh hoạt, thích ứng được với các kịch bản biến đổi khí hậu.

4.2. Ứng dụng khoa học công nghệ và quản lý tổng hợp

Áp dụng công nghệ GIS, viễn thám để lập bản đồ ngập lụt chính xác. Xây dựng hệ thống cảnh báo lũ dựa trên mô hình toán học thời gian thực. Phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung cho toàn lưu vực. Nghiên cứu các giống cây trồng, vật nuôi chịu ngập. Đào tạo nguồn nhân lực địa phương về quản lý thiên tai. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) phải là nguyên tắc chỉ đạo. Mọi can thiệp cần được đánh giá tác động môi trường kỹ lưỡng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đồ án tốt nghiệp tìm hiểu nguyên nhân gây lũ lụt và phân tích hiện trạng các giải pháp phòng tránh lũ lụt ở tỉnh đồng tháp thuộc vùng đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG ĐBSCL VÀ TỈNH ĐỒNG THÁP LIÊN QUAN TỚI TÌNH TRẠNG LŨ, LỤT 1.1 Tóm tắt về lưu vực sông Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long 1.1 Lưu vực sông Mekong Với chiều dài 4.880 km, Mekong là con sông lớn thứ 12 trên thế giới về diện tích, thứ sáu về lượng nước (500 tỷ m3), bắt nguồn từ vùng núi Tây Tạng ở độ cao 5.000 m so với mực nước biển trung bình (MSL), chảy qua địa phận 6 nước: Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.1 mô tả phân bố diện tích và tỷ lệ đóng góp dòng chảy vào lưu vực sông Mekong (LVSMK).1 Phân bố diện tích lưu vực sông Mekong theo từng nước No Tên nước Diện tích Tỷ lệ diện Tỷ lệ đóng góp tổng (km2) tích lượng dòng chảy (%), lưu (%) lượng trung bình (m3/giây) 1 Việt Nam 72.060 Nguồn: Ủy hội sông Mekong Quốc tế (MRC) LVSMK rộng 795.000 km2, chia thành hai phần: thượng lưu vực sông Mekong (TLVSMK) bao gồm diện tích lưu vực nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc và Myanma (171.000 km2) và hạ lưu vực sông Mekong (HLVSMK) là diện tích lưu vực (624.000 km2) của bốn nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Phần HLVSMK bắt đầu từ vùng Tam giác vàng thuộc biên giới 3 nước Thái Lan, Myanma 10 Đồ Án Tốt Nghiệp và Lào, ở độ cao 500 m MSL, chiếm khoảng 77% tổng diện tích toàn LVSMK (Hình 1. TLVSMK có chiều dài 2.680 km là vùng núi cao hiểm trở, lòng sông lắm thác ghềnh, thuộc cao nguyên Tây Tạng (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) tuyết phủ quanh năm, vào mùa khô, tuyết tan duy trì dòng chảy xuống hạ lưu. TLVSMK chịu ảnh hưởng của khí hậu ôn đới, một phần nhỏ chịu ảnh hưởng cận nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1000 – 1700 mm.

HLVSMK có chiều dài 2.200 km gồm phần trung lưu từ Chiang Saen tới Kratie (Campuchia) chiếm khoảng 57% tổng diện tích lưu vực, là vùng sinh lũ chủ yếu của lưu vực. Qua khỏi Kratie, sông Mekong tiếp tục chảy vào vùng châu thổ sông Mekong (CTSMK) bao gồm diện tích đồng bằng của Việt Nam gọi là ĐBSCL, còn lại là diện tích phần châu thổ thuộc Campuchia. HLVSMK khí hậu chịu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa riêng biệt. Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 và mùa khô dài hơn, trong những tháng còn lại.

Lượng mưa phân phối không đều trên lưu vực, lớn nhất tới 3.000 mm ở vùng núi dọc theo dãy Trường Sơn thuộc Lào, Campuchia và Tây Nguyên của Việt Nam, trong khi vùng cao nguyên Korat của Thái Lan và lưu vực Biển Hồ lượng mưa chỉ có 1. LVSMK được chia thành 6 vùng địa lý tự nhiên như sau: Vùng núi cao phía Bắc (IV), vùng núi cao phía Đông (II), Cao nguyên Korat (III), vùng núi cao phía Nam (V), vùng đồng bằng (I) và lưu vực sông Lang Cang của Trung Quốc (VI). 11 Đồ Án Tốt Nghiệp Nguồn: Ủy hội sông Mekong Quốc tế (MRC) Hình 1.1: Lưu vực sông Mekong và các tiểu lưu vực Các lưu vực sông nhánh của hạ lưu vực sông Mekong HLVSMK có 128 sông nhánh lớn, nhỏ đổ vào dòng chính Mekong. Trong đó một số nhánh sông lớn tập trung ở Đông Bắc Thái Lan (Kok Ingnan, Nam Mun, Nam Chi), ở Lào (Nam Theum, Nam Ou, Xebang Phai, Xebang Hieng), phía Tây Bắc Campuchia có sông Tonle Sap, một nhánh của sông Mekong, vùng Đông Bắc Campuchia và Tây Nguyên của Việt Nam cùng chung hệ thống các sông nhánh (Se Kông, Se San và Srepok).2 mô tả mạng lưới sông vùng HLVSMK.

Dòng chảy sông Mekong do tuyết tan và mưa sinh ra, nhưng phân bố không đều trên lưu vực. Tổng lượng nước trung bình năm tại của sông khoảng 475 tỷ m3. 12 Đồ Án Tốt Nghiệp Trong đó tổng lượng nước trung bình năm tại Chiang Sean là 76,5 tỷ m3. Lưu lượng trung bình nhiều năm khoảng 15.000 m3/s (hiện nay chỉ còn 14.

Lưu lượng đo được tại trạm Kratie, lớn nhất tới 75.700 m3/s (1939) và nhỏ nhất chỉ có 1. Các nhánh sông phía Tây Trường Sơn đóng góp 70% tổng lượng. Biển Hồ và Tonle Sap là hồ điều tiết tự nhiên cắt 20% đỉnh lũ và bổ sung 16% nước cho vùng hạ lưu trong mùa kiệt. So sánh với các con sông lớn khác, lưu lượng dòng chảy trên sông Mekong từng năm có thể dự đoán được.

Giữa những năm lũ cao và lũ thấp, lưu lượng dòng chảy rất ít thay đổi. Mặc dù hình thái mưa không thay đổi kể từ năm 1950, vào mùa khô nước chảy vào sông nhiều hơn và vào mùa mưa nước chảy vào ít hơn. Điều có thể giải thích ở đây là do những tác động của con người thông qua việc xây dựng các đập cho tưới tiêu và thủy điện. Chúng trữ lại làm giảm lưu lượng nước đổ vào sông trong mùa mưa, và xả nước trong mùa khô để tưới tiêu hoặc phát điện.2 Ủy hội sông Mekong Quốc tế MRC 1.1 Lịch sử hình thành: Ủy ban phối hợp khảo sát hạ lưu vực sông Mekong (HLVSMK), gọi tắt là Ủy ban sông Mekong (Mekong River Committee - MRC) gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, ra đời năm 1957, do Liên Hợp Quốc bảo trợ, đánh dấu bước ngoặt cho sự hợp tác chia sẻ tài nguyên trong lưu vực.

Tuy nhiên sự hợp tác lưu vực bị tác động do những biến cố chính trị xảy ra vào thập kỷ 70 – 80 của thế kỷ 20, MRC chỉ còn 3 nước Thái Lan, Lào và Việt Nam Cộng hòa, được gọi là Ủy ban lâm thời sông Mekong (Interim Mekong River Committee). Những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trong xu thế hội nhập để phát triển, sự hợp tác trong lưu vực đã và đang trở nên nhu cầu cấp bách thúc đẩy sự ra đời hặc nâng cấp các tổ chức ban đầu thành Ủy hội sông Mekong Quốc tế (Mekong River Commission – MRC). 13 Đồ Án Tốt Nghiệp Nguồn: Ủy hội sông Mekong Quốc tế (MRC) Hình 1.2: Lưu vực các sông nhánh của vùng hạ lưu vực sông Mekong Ủy hội sông Mekong Quốc tế (Mekong River Commission - MRC) là sự kế thừa Ủy ban sông Mekong, trên cơ sở “Hiệp định hợp tác phát triển bền vững HLVSMK”, được ký ngày 5/4/1995 tại Thái Lan, gồm 4 nước HLVSMK.2 Hiệp định Mekong 1995: Hiệp định gồm sáu chương, 42 điều. Trong đó, Chương I: Mở đầu; Chương II: Ðịnh nghĩa và các thuật ngữ; Chương III: Mục tiêu và các nguyên tắc hợp tác, gồm mười điều quy định lĩnh vực, đối tượng, phạm vi và các nguyên tắc hợp tác; Chương IV: Khuôn khổ về thể chế, gồm 23 điều quy định cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của tổ chức hợp tác (MRC); Chương V: Giải quyết khác biệt và bất đồng, gồm hai điều hướng dẫn về cơ chế giải quyết bất đồng nảy sinh giữa các nước khi thực hiện và Chương VI: Ðiều khoản cuối cùng.

Theo Hiệp định, nguyên tắc cơ bản trong hợp tác giữa các quốc gia thành viên MRC là đồng thuận, bình đẳng và tôn trọng chủ quyền lãnh thổ. Các vấn đề liên quan hợp tác Mekong luôn được xem xét và giải quyết bằng các quá trình tư vấn rộng rãi ở nhiều cấp. Nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý của quốc tế cũng được áp dụng. Hiệp định Mekong 1995 và sự ra đời của MRC đã ghi nhận những nhận thức mới của cả bốn quốc gia thành viên trước những biến đổi về chính trị, kinh tế và xã hội trong khu vực.

Trong khuôn khổ hợp tác mới, MRC đã đưa các quốc gia ven sông nói chung và Việt Nam nói riêng vào một trang mới trong hợp tác khai thác, phát triển, quản lý và bảo vệ nguồn nước và các tài nguyên liên quan khác trong khu vực sông Mekong. Hiệp định là căn cứ pháp lý quan trọng, quy định các nguyên tắc cơ bản và khung hợp tác chung cho các quốc gia thành viên trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn nước và các tài nguyên liên quan khác trong vùng hạ lưu sông Mekong, nhằm đạt được phát triển bền vững, góp phần thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế và các chương trình trọng điểm các quốc gia thành viên trong vùng hạ lưu sông Mekong, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ và thực hiện các Công ước quốc tế khác liên quan quản lý, khai thác, phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường. Trong các khuôn khổ hợp tác vùng hiện nay trong lưu vực sông Mekong, MRC là tổ chức có lịch sử hợp tác lâu dài nhất, có mạng lưới giám sát, hỗ trợ kỹ thuật ổn định, bảo vệ tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan, đồng thời là tổ chức có 15 Đồ Án Tốt Nghiệp chức năng xây dựng các khung pháp lý vùng, bao gồm những quy chế có tính ràng buộc cao đối với các quốc gia thành viên về chia sẻ công bằng, hợp lý tài nguyên nước và cùng nhau bảo vệ môi trường sinh thái lưu vực sông bên cạnh chức năng thúc đẩy các dự án phát triển chung. Trong những năm qua, MRC đã đạt được những thành quả nổi bật: Xây dựng khung pháp lý sử dụng tài nguyên nước và tăng cường đối thoại về phát triển tài nguyên nước trong vùng, đặc biệt thúc đẩy quá trình quy hoạch toàn lưu vực có tính điều phối thông qua quản lý tổng hợp tài nguyên nước; nghiên cứu thủy sản và đa dạng sinh học thủy sinh, đưa ra hỗ trợ quyết định môi trường; mở rộng và tăng cường mạng giám sát, xây dựng cơ sở dữ liệu, thúc đẩy quản lý và giảm nhẹ tác động của lũ lụt và hạn hán; giúp các quốc gia thành viên mở rộng các cơ hội thương mại quốc tế thông qua phương tiện giao thông thủy an toàn, hiệu quả hơn và các khuôn khổ pháp lý cho giao thông thủy xuyên biên giới, xác định sự cân bằng giữa các cơ hội và nguy cơ của các dự án thủy điện đang được kiến nghị, khởi động quá trình giúp đỡ người dân trong lưu vực để thích ứng với biến đổi khí hậu; mở rộng hợp tác giữa MRC với các đối tác khu vực, vùng và quốc tế, bao gồm, các đối tác đối thoại (Trung Quốc và Myanmar) và các đối tác phát triển khác.

MRC đang bước vào năm cuối cùng của Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2016 - 2020 và chuẩn bị xây dựng Kế hoạch chiến lược giai đoạn năm năm tiếp theo, từ 2021 - 2025. Ðối với Việt Nam, Hiệp định Mekong 1995 là cơ sở pháp lý quan trọng (và cho tới nay là duy nhất về tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan trong lưu vực sông Mekong) để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam đối với vùng ĐBSCL và Tây Nguyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ