Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm chung. Quản lý nhà nước về lao động Cụm từ “quản lý nhà nước” có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhận, là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quản lý hành chính nhà nước - quản lý nhà nước trên lĩnh vực hành pháp và chủ yếu được giao cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Đối với quản lý nhà nước về lao động cần hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa rộng của cụm từ này. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội, là phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhận. Cũng có điều cần nhấn mạnh thêm là: quan điểm của hầu hết các nhà nước tiến bộ , dân chủ ngày nay đều coi rằng, những công việc này là sự ủy quyền của xã hội, của người dân cho nhà nước thực hiện.
Bởi lẽ, nhà nước cũng như quyền lực nhà nước vốn dĩ phải là của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân. Quản lý nhà nước không chỉ vì tự thân nó mà phải trước tiên và quan trọng nhất nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân. Nhà nước sinh ra để phục vụ nhân dân. Quản lý nhà nước điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể trong xã hội diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người dân và các chủ thể liên quan trong xã hội.
5 Luan van Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quản lý tài sản là quá trình quản lý bắt đầu từ việc xac định mục tiêu đến khi đạt được hiệu quả thực tế, tạo thành một chu kì quản lý liên tục nối tiếp nhau.
Quản lý xuất hiện trong mọi tổ chức, tập thể có hoạt động chung. Chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý. Pháp luật là công cụ chủ yếu của quản lý nhà nước. Đôi tượng quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong một quốc gia, là sinh hoạt, đời sống của xã hội diễn ra trên từng lĩnh vực.
Quản lý nhà nước được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được phân biệt với quản lý mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, đờn thể, đơn vị, xí nghiệp, một cộng đồng dân cư mang tính tự quản. - Đặc điểm của quản lý nhà nước: Dựa trên khái niệm, ta có thể dễ dàng rút ra được một số đặc điểm nổi bật của quản lý nhà nước như sau: + Mang tính quyền lực tối cao, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước. Được thiết lập dựa trên cơ sở mối quan hệ “ủy quyền” và “sự phục tùng”. + Mang tính khoa học, tính kế hoạch: đặc điểm này đòi hỏi Nhà nước cần có sự tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng bị quản lý phải nhất quán, cụ thể dựa trên những kế hoạch đã được vạch ra từ trước và phải được nghiên cứu một cách khoa học.
6 Luan van + Mang tính tổ chức và điều chỉnh: tính tổ chức ở đây có thể được heieru là khoa học về cách thức thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người phục vụ cho quá trình quản lý xã hội. Còn tính điều chỉnh chính là cách mà nhà nước sử dụng các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải tuân theo những quy luật xã hội khách quan. + Mang tính liên tục, ổn định: hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn bắt kịp với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý. Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh.
Điều này giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện toàn họt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội, là phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhận. Quản lý nhà nước phải nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân. Quản lý nhà nước điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể trong xã hội diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người dân và các chủ thể liên quan trong xã hội.
Quản lý nhà nước về lao động (State management of labor) là một trong những lĩnh vực quản lý của Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, gồm các nội dung quản lý nhất định nhằm vào ổn định thị trường lao động, đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động. Quản lý nhà nước về lao động là một chế định của luật lao động, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý lao động giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Việc quản lý lao động của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định thị trường lao động, đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động. Có thể hiểu, quản lý nhà nước về lao động là một chế định của luật lao động, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý 7 Luan van lao động giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội.
Quản lý nhà nước về lao động có các đặc điểm nổi bật sau: - Một là, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động bao gồm nhiều cấp độ như Chính phủ, Bộ ngành, chính quyền địa phương. Trong đó chính quyền trung ương thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước; chính quyền thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình. - Hai là, nội dung quản lý nhà nước về lao động bao gồm nhiều nội dung khác nhau và sử dụng các biện pháp quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý, bảo đảm và thúc đẩy quan hệ lao động, thị trường lao động phát triển theo những định hướng mà Nhà nước đã đặt ra. Quản lý nhà nước về lao động bao gồm quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng lao động và quan hệ giữa Nhà nước với người lao động.
Các nội dung quản lý nhà nước về lao động tập trung vào: - Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lao nhằm bảo đảm về xây dựng thế chế phục vụ quản lý, tạo công cụ quản lý, công cụ pháp luật là quan trọng nhất của quản lý nhà nước về lao động. - Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và biến động cung, cầu lao động; quyết định chính sách tiền lương đối với người lao động; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội, giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề; xây dựng khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ thuộc giáo dục nghề nghiệp, quy định danh mục nghề chỉ được sử dụng lao động đã qua đào tạo giáo dục nghề nghiệp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia… nhằm phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực. - Đảm bảo duy trì, ổn định và làm lành mạnh môi trường lao động và quan hệ lao động thông qua: xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định; thúc đẩy việc áp dụng quy định 8 Luan van của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ lao động; thực hiện việc đăng ký và quản lý hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật; hợp tác quốc tế về lao động. Nhà nước phải thực hiện chính sách hợp tác quốc tế nhằm mở rộng quan hệ quốc tế, mở rộng thị trường lao động để bảo đảm công ăn, việc làm, nâng cao kỹ năng, tay nghề, cung cách làm ăn để người lao động có nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cho người lao động.
Quản lý nhà nước về lao động là một trong những lĩnh vực quản lý của Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào nội dung quản lý, sử dụng các biện pháp quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý, bảo đảm và thúc đẩy quan hệ lao động, thị trường lao động phát triển theo những định hướng mà Nhà nước đã đặt ra. Quản lý nhà nước về lao động bao gồm quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng lao động và quan hệ giữa Nhà nước với người lao động. Quản lý nhà nước về lao động tại doanh nghiệp Quan hệ lao động trong doanh nghiệp và trong các tổ chức khác (cơ quan chính quyền, hợp tác xã…) đều tạo nên quan hệ lao động song chúng có sự khác biệt về chủ thể và mục đích sử dụng sức lao động. Trong quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, người sử dụng lao động là doanh nghiệp chứ không phải một chủ thể nào khác: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội hay cá nhân, … Trong kinh tế, lao động là hoạt động cơ bản của xã hội loài người, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội sâu sắc.