Chương 1: Cơ sở pháp lý về hoạt động thanh tra lao động Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra lao động của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm hoạt động thanh tra lao động của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA LAO ĐỘNG 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm thanh tra Theo Từ điển tiếng Việt, thanh tra là: “kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp [21].Với nghĩa này, thanh tra bao hàm việc kiểm soát, xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định.
Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 đã khẳng định mục đích của hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lí, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lí hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lí nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định, thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lí theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao còn thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực 8 đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Như vậy, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành khác nhau về tính chất, chủ thể tiến hành; phạm vi, đối tượng thanh tra; nội dung thanh tra; kiến nghị biện pháp xử lý.
Từ những luận điểm nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm Thanh tra như sau: Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của quản lí nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lí có thẩm quyền, nhân danh quyền lực nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản lí trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lí vi phạm, tăng cường quản lí, góp phần hoàn thiện cơ cấu quản lí, tăng cường pháp chế bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Với cách hiểu như vậy, thanh tra là hoạt động có những đặc trưng riêng biệt. Một là, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước.Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, quy định về tổ chức, quyết định và kết luận thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra). Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền.
Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song xem xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là chức năng, là công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước. 9 Hai là, thanh tra là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước. Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Có thể nói, thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được nhân danh nhà nước để thực hiện hoạt động kiểm tra, xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp trong một hoạt động nhất định trên cơ sở các quy định pháp luật. Thanh tra (ở đây được dùng với tính chất là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và được nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó.
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ, các cơ quan thanh tra nhà nước có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó: Quyết định tổ chức các cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt; Trình thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; Yêu cầu đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; Niêm phong tài liệu, kiểm kê tài sản, trưng cầu giám định; Tạm đình chỉ hành vi vi phạm, tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép, thu hồi tài sản; Xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật (đối với thanh tra chuyên ngành); Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật có 10 dấu hiệu của tội phạm sang cơ quan điều tra để xử lý; Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra. Ba là, thanh tra có tính khách quan Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ, mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra.
Mọi nhận định, đánh giá trong quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự kiện thực tế, không bình luận chủ quan. Tính khách quan đảm bảo hoạt động thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng. Điều này cũng có nghĩa rằng, các kết luận sau thanh tra đều phải có những căn cứ thực tế, khách quan, không có sự áp đặt ý chí chủ quan của chủ thể vào hoạt động thanh tra. Bốn là, thanh tra có tính độc lập tương đối Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra.
Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước. Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan, tổ chức tự thực hiện, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách. Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan quản lý nhà nước khác, các cơ quan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Vì có tính độc lập tương đối nên về nguyên tắc, các chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra sẽ không bị chi phối bởi các tác động từ bên ngoài.
Khái niệm thanh tra lao động Thanh tra nhà nước về lao động là một bộ phận của thanh tra nhà nước, là một hoạt động của thanh tra ngành Lao động – Thương binh và Xã hội. Thanh tra lao động được tổ chức và hoạt động theo Luật Thanh tra, Bộ luật Lao động và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác. Trong lĩnh vực lao động, hoạt động của thanh tra nhà nước về lao động có phạm vi rất rộng, trên mọi ngành kinh tế và trong các đơn vị sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Hệ thống thanh tra nhà nước về lao động bao gồm Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
Hoạt động thanh tra về lao động bao gồm: - Thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Thanh tra nhà nước về lao động.