Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động ở tỉnh Quảng Bình - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động ở tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới 8 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Những vấn đề chung về xuất khẩu lao động 1. Khái niệm xuất khẩu lao động Cho đến nay rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm xuất khẩu lao động. Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa hàng hóa hoặc dịch vụ ra ngoài lãnh thổ quốc gia nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể xuất khẩu và quốc gia đó.
Xuất khẩu lao động chính là hoạt động đưa công dân một nước ra khỏi lãnh thổ quốc gia để làm việc nhằm thu được lợi ích cho người lao động cũng như lợi ích quốc gia đó. Tổ chức ILO không sử dụng thuật ngữ xuất khẩu lao động mà là “di cư lao động ra nước ngoài để làm việc” để nói về dòng người lao động di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác làm việc. Ở Việt Nam, Luật số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 định nghĩa “Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của luật này” [21]. Người lao động đi sang nước ngoài làm việc phải có đủ các điều kiện theo quy định pháp luật của nước tiếp nhận và nước đưa họ đi lao động.
Để phát huy tối đa các mặt tích cực và giảm các tác động tiêu cực do di chuyển lao động (LĐ) quốc tế mang lại, nước xuất khẩu hay nước đưa người lao động ra nước ngoài làm việc tiến hành quản lý, hỗ trợ và cho phép các tổ chức đưa lao động hoặc cho phép cá nhân người lao động ra nước ngoài làm việc, đây chính là hoạt động xuất khẩu lao động. Hoạt động này mang tính kinh tế - xã hội (KT- XH), đem lại lợi ích không chỉ cho quốc gia xuất khẩu mà cả quốc 9 Luan van gia nhập khẩu cũng như các bên tham gia như: tổ chức dịch vụ XKLĐ, người LĐ và chủ sử dụng LĐ… Từ những khái niệm trên có thể hiểu “XKLĐ là quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc theo hợp đồng giữa cá nhân người lao động và chủ sử dụng lao động” [5]. Đặc điểm của xuất khẩu lao động 1. Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt Như chúng ta đã biết TTLĐ là một thị trường đặc biệt, đặc trưng cơ bản hoạt động XKLĐ khác so với xuất khẩu các hàng hóa khác xuất phát từ tính đặc thù của các loại hàng hóa này.
Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì con người là chủ thể lao động, có tư duy và có khả năng làm chủ bản thân. Chính vì vậy, trong các điều, khoản ký kết về XKLĐ ngoài các điều kiện quy định như đối với các loại hàng hóa bình thường khác còn phải có những điều khoản đề cập đến các vấn đề như: đời sống chính trị, văn hóa, phong tục, tập quán, tinh thần, sinh hoạt của người lao động (NLĐ). Những điều này xuất phát từ sự khác nhau về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo của các quốc gia tham gia vào lĩnh vực XKLĐ. XKLĐ ở Việt Nam là một hoạt động được sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước.
Nhà nước đã ban hành một hệ thống luật và các văn bản dưới luật để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh xung quanh vấn đề XKLĐ, cho phép các tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân được tổ chức và thực hiện XKLĐ trên cơ sở tuân thủ hệ thống luật và các văn bản pháp quy đó. Xuất phát từ những đặc điểm đã nêu ở trên, có thể nói XKLĐ là một lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt. Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động Trong giai đoạn 1980 – 1990 Việt Nam tham gia TTLĐ, đã đưa lao động ra nước ngoài thông qua các hiệp định song phương, trong đó quy định khá chi tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Nghĩa là, về cơ bản Nhà nước vừa thực hiện quản lý Nhà nước về hợp tác lao động, vừa quản lý sự nghiệp hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế cụ thể.
Tuy nhiên, đến năm 2006 Quốc hội đã ban hành Luật số 72/2006/QH-11 ngày 29/11/2006 về Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo lao động đã quy định rõ về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo đó, hầu hết các hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký. Đồng thời, các tổ chức XKLĐ phải chịu trách nhiệm về hoạt động XKLĐ từ khâu tổ chức đưa người đi đến khâu quản lý NLĐ và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong toàn bộ hoạt động của mình trên cơ sở tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật đã đề ra. Do vậy, các hiệp định, các thoả thuận song phương giữa các quốc gia chỉ mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô, định hướng.
Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Sự cạnh tranh ở đây không chỉ diễn ra giữa các tổ chức tham gia hoạt động XKLĐ ở trong nước mà còn là sự cạnh tranh giữa các quốc gia cùng có hoạt động cung ứng XKLĐ trên một thị trường, các thị trường khác nhau và giữa các tổ chức XKLĐ của chính quốc gia đó. Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là, XKLĐ là hoạt động mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về vấn đề giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc các nước XKLĐ phải cố gắng tối đa để chiếm 11 Luan van lĩnh thị trường ngoài nước. Nghĩa là, họ phải đầu tư nhiều cho chương trình marketing, cho chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp nhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động.
Hai là, XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực: Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan….cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều này làm hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động nước ngoài đến các nước này làm việc. Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất cạnh tranh gay gắt trong XKLĐ để xây dựng các chương trình tập huấn, đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao tham gia xuất khẩu. Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động Trong lĩnh vực XKLĐ, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà NLĐ gửi về và các khoản thuế, lợi ích của các tổ chức XKLĐ là các khoản phí thu từ các loại phí giải quyết việc làm ngoài nước, còn lợi ích của NLĐ là khoản thu nhập từ phía chủ sử dụng lao động ở nước ngoài, khoản thu nhập này thường cao hơn nhiều so với khoản thu nhập của họ ở trong nước.
Chính vì chạy theo lợi ích này mà các tổ chức xuất khẩu lao động có quyền đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài rất dễ vi phạm các quy định của Nhà nước, nhất là việc thu các loại phí, lệ phí từ dịch vụ. Từ chỗ quyền lợi của người lao động bị vi phạm sẽ khiến cho việc làm ngoài nước không còn thật hấp dẫn đối với người lao động. Ngược lại, cũng vì chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất dễ vi phạm những hợp đồng đã ký kết, như hiện tượng bỏ hợp đồng ra làm việc bên ngoài, hết hạn hợp đồng lao động nhưng không chịu về nước. Do vậy, các chế độ, chính sách của Nhà nước cần phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải đặc biệt chú ý đến lợi ích trực tiếp của NLĐ.
Xuất khẩu lao động là hoạt động chịu sự tác động mạnh mẽ của các biến động của thị trường sử dụng lao động Hoạt động XKLĐ phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động (NKLĐ), do vậy, cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang, đã và sẽ được thực hiện để xây dựng các chính sách và chương trình đào tạo, giáo dục định hướng phù hợp với nhu cầu của các nước NKLĐ. Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũ công nhân với tay nghề cao, thích hợp với nhu cầu sử dụng lao động của các nước NKLĐ mới có điều kiện thuận lợi trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước. Và đối với nước nào có tầm nhìn xa, trông rộng, có khả năng phân tích đánh giá, dự đoán đúng tình hình mới không bị động trước sự biến đổi của tình hình và có thể đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt động XKLĐ. Các hình thức xuất khẩu lao động Theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, XKLĐ được thực hiện theo các hình thức chủ yếu sau đây: a) Thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Hình thức này được thực hiện bởi các doanh nghiệp được Bộ LĐTBXH cấp Giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Doanh nghiệp khai thác hợp đồng cung ứng lao động, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tuyển chọn người lao động, đưa và quản lý người lao động ở ngoài nước.