Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 1. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài 1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, với chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng và nhà nước ta, nhu cầu về lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng. Di chuyển lao động nước ngoài là xu thế tất yếu đối với mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình tiếp nhận lao động nước ngoài đến làm việc sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong quá trình hội nhập. Do vậy, quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài đang được đặt trước nhiều vấn đề lý luận cũng như thực tiễn cần quan tâm giải quyết [1, tr. Trong đó, việc làm rõ khái niệm quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một vấn đề lý luận cần làm rõ để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài. Luan van Hiểu một cách chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [2, tr.
Quản lý gồm quản lý đối với thế giới tự nhiên và quản lý xã hội. Quản lý đối với thế giới tự nhiên là sự tác động lên các sự vật, hiện tượng thuộc về thế giới tự nhiên (như các thiết bị máy móc, cơ thể sinh học. Quản lý xã hội là sự tác động (điều khiển, chỉ đạo) của các chủ thể là con người lên các đối tượng cũng là con người theo những cách thức và với những hình thức nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra[2, tr. Quản lý xã hội nảy sinh tất yếu khi có hoạt động chung của nhiều người, tồn tại dưới bất kỳ xã hội nào, từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội có giai cấp.
Quản lý xã hội diễn ra ở nhiều phạm vi và với các hình thức, phương pháp cụ thể khác nhau trong các cộng đồng người: trong một gia đình, trong các bộ tộc, bộ lạc…hay trong các tổ chức, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp, trong các tổ chức tôn giáo, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp và rộng lớn hơn là trong một nhà nước[3, tr. Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc quản lý đối với xã hội do nhà nước đảm nhiệm. Từ đó xuất hiện một hình thức quản lý xã hội mới, đó là hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là hình thức quản lý xã hội sâu rộng nhất, quan trọng nhất, có hiệu lực và ảnh hưởng quyết định nhất đối với xã hội.
Theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt thì quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, chỉ đạo của nhà nước (bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước) bằng quyền lực nhà nước đối với các hành vi của con người hay hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay toàn bộ nhà nước nhằm đạt được mục đích mà nhà nước đề ra[4, tr. Từ khái niệm này, có thể hiểu, quản lý nhà nước được tiếp cận ở hai nghĩa (tương ứng hai phạm vi), theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước (bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp vận hành như một thể thống nhất nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước) [5, tr. Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chính là hoạt động hành chính nhà nước hay Luan van đôi khi còn được gọi là hoạt động chấp hành - điều hành do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp. Theo đó, quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với đối tượng quản lý của nhà nước. Ở góc độ khoa học, hiện nay có hai quan điểm phổ biến khi xác định nội hàm của khái niệm “quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài”. Quan điểm thứ nhất cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một bộ phận của quản lý nhà nước đối với người nước ngoài nói chung.
Theo đó, quản lý nhà nước đối với người nước ngoài là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động của người nước ngoài nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là hoạt động quản lý bằng pháp luật của nhà nước mà chủ yếu là bằng các luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, hướng dẫn về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động (trong đó có lao động) của người nước ngoài tại Việt Nam. Hoạt động này do nhiều cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền cùng thực hiện. Quan điểm thứ hai cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một hoạt động quản lý nhà nước độc lập, đặc thù.
Ở phương diện này, nhà nước có vai trò là người tạo khung pháp lý và môi trường bình đẳng cho các chủ thể tham gia thị trường lao động hợp tác và phát huy tốt năng lực của mình. Đồng thời, nhà nước còn trực tiếp đóng vai trò tổ chức để thị trường lao động phát triển. Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài nằm trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước về lao động nói chung. Trong đó, bản chất là tập trung vào quản lý việc tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; trình tự, thủ tục cấp phép lao động và sử dụng giấy phép lao động; trách nhiệm của người lao Luan van động nước ngoài và các cơ quan nhà nước trong việc tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam… Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài theo quan điểm này là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các quan hệ lao động và hoạt động của người lao động nước ngoài, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành khai thác, sử dụng hiệu quả nhất nguồn lao động này nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Quan điểm này đã chỉ rõ nhà nước căn cứ vào nhu cầu lao động, xác định mục tiêu và sử dụng pháp luật để tác động, điều chỉnh các quan hệ và hoạt động của nguồn lao động nước ngoài. Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng và có mối quan hệ mật thiết với các khách thể quản lý khác, đặc biệt là các vấn đề về việc làm, thị trường lao động trong nước, kinh tế, an ninh…Mục đích cần phải đạt được trong quản lý người lao động nước ngoài là khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế[1, tr. Qua sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm “quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong đời sống hằng ngày các chức năng của nhà nước trong quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, lao động của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, ngăn chặn những vấn đề phức tạp phát sinh từ nguồn lao động nước ngoài cũng như bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ khi làm việc tại Việt Nam”. Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có các đặc điểm nổi bật sau: Một là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một quá trình gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc.
Có quan điểm cho rằng về cơ bản quyền con người trong lao động là những quyền con người Luan van liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng. Nếu hiểu mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động bao gồm các nội dung liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động thì quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là quá trình tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các điều kiện lao động và sử dụng lao động của những người lao động nước ngoài. Như vậy có thể thấy rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có liên quan đến các mối quan hệ quốc tế và việc bảo vệ quyền con người. Ở Việt Nam hiện nay vấn đề lao động di trú có tầm quan trọng lớn trong chính sách kinh tế và chính sách ngoại giao.
Thực hiện các cam kết quốc tế về lao động, hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài ở Việt Nam hướng đến bảo vệ quyền của những người lao động nước ngoài Đây là đặc điểm quan trọng không chỉ liên quan đến thiết kế chính sách, thiết lập cơ chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài mà còn liên quan đến các hoạt động tác nghiệp quản lý cụ thể. Hai là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một quá trình liên quan tới nhiều ngành, tất cả các địa phương và nhiều quan hệ lao động.