Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề ĐĐKDT trong tiến trình cách mạng Việt Nam, ĐĐKDT đã được các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau viết về ĐĐKDT nói chung và địa phương nói riêng. Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ĐĐKDT công bố dưới các hình thức như: sách, bài viết trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, đề tài cấp bộ, luận án tiến sỹ,… Có thể chia các công trình nghiên cứu thành các nhóm chủ yếu: 1. Các công trình nghiên cứu chung về đại đoàn kết dân tộc Cuốn sách Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của tác giả Vũ Oanh (1998) [120] đã khái quát truyền thống ĐĐKDT, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trên cơ sở khối liên minh công-nông-trí dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng cuộc sống xã hội có văn hóa, đạo đức, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Đề cập đến Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT và vai trò của mặt trận trong ĐĐKDT, cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc của Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn Khoan (1999) [103] gồm hai phần. Phần thứ nhất, các tác giả làm rõ quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và chỉ rõ đoàn kết, đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin và qua thực tiễn của Việt Nam; tư tưởng đại đoàn kết rộng rãi giữa các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp… Phần thứ hai, các tác giả đi sâu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận đoàn kết dân tộc và hoạt động xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước đến năm 1969. luan an 7 Luận án Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm 1976-1994 của Hoàng Thị Điều (1999) [78] đã trình bày một cách có hệ thống, khách quan tương đối toàn diện việc thực hiện chiến lược ĐĐKDT của Đảng ở thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Luận án làm rõ mối quan hệ giữa chủ trương, đường lối của Đảng và quá trình thực hiện chiến lược ĐĐKDT.
Luận án chỉ ra những thành công và hạn chế rút ra những kinh nghiệm của Đảng trong quá trình thực hiện chiến lược ĐĐKDT của Đảng từ năm 1976 đến năm 1994. Cuốn sách Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Nguyễn Trọng Phúc (2000) [122] đã đề cập đến kinh nghiệm về “tăng cường đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới”. Tác giả đã làm rõ chiến lược ĐĐKDT của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và ĐĐKDT-kết quả và sức mạnh thực hiện CNH, HĐH đất nước. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT trong thời kỳ mới, cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới của tập thể tác giả (2004) [88] đã tập trung phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT; quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT.
Đặc biệt là sự vận dụng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Trên cơ sở đó, các tác giả khẳng định những chủ trương lớn của Đảng qua các kỳ đại hội và hội nghị trung ương nhằm không ngừng củng cố khối ĐĐKDT trong thời kỳ đổi mới; khái quát những chính sách của Nhà nước đối với các giai tầng xã hội nhằm phát huy sức mạnh toàn dân để tranh thủ ngoại lực. Cuốn sách cũng đưa ra giải pháp nhằm phát huy sức mạnh ĐĐKDT trong thời kỳ mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài cấp bộ Kế thừa và phát triển truyền thống đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay của Nguyễn Quốc Bảo (2004) [34], đề tài làm rõ 3 nội dung lớn: cơ sở hình thành truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam; Sức mạnh của truyền thống đại đoàn kết trong lịch sử dân tộc Việt Nam; luan an 8 Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Đề tài gồm 11 chuyên đề, các chuyền đề đều đề cập đến vai trò của đại đoàn kết và sự vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; chủ trương của Đảng về xây dựng khối ĐĐKDT… Cuốn sách Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết các dân tộc của Lê Ngọc Thắng (2005) [140] đã nêu một cách đầy đủ, khái quát cơ sở hình thành cũng như những nội dung cơ bản của vấn đề đoàn kết đồng bào dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó làm sáng tỏ tư tưởng đoàn kết nói chung và đoàn kết các dân tộc nói riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, tác giả làm rõ quá trình vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện đoàn kết các dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Nghiên cứu chủ trương của Đảng về ĐĐKDT, cuốn sách Về đại đoàn kết dân tộc (2005) [62] đã trình bày rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng ĐĐKTDT trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng; Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 17/11/1993 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2003). Đây là tài liệu quan trọng giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu để nghiên cứu về đường lối và chính sách ĐĐKTDT của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới.
Cuốn sách Những tìm tòi và đổi mới trên con đường lên Chủ nghĩa xã hội (1986-2006) của Doãn Hùng, Nguyễn Ngọc Hà, Đoàn Minh Huấn (2007) [94] đã khái quát sự hình thành và phát triển tư duy lý luận của Đảng trên những lĩnh vực trọng yếu từ 1986 đến 2006, mỗi chuyên đề đã thể hiện rõ sự chuyển biến tư duy lý luận của Đảng trên từng lĩnh vực trong đó có chuyên đề: “Đường lối của Đảng về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh nhân dân trong thời kỳ đổi mới”. Cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước của tập thể tác giả (2008) [89] bao gồm những chuyên luận, bài viết đã được công bố trên Tạp chí Lịch sử Đảng. Trong đó có bài viết “Củng cố khối liên minh công-nông-trí theo tư tưởng Hồ Chí Minh-một điều kiện đảm bảo luan an 9 cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của tác giả Mạch Quang Thắng, tác giả khẳng định: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân có nghĩa là để xây dựng thắng lợi khối liên minh công-nông- trí, điều đó có ý nghĩa cốt tử để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Bài viết “Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số” của K’sor Phước (2009) [128], tác giả đã chỉ ra từ khi ra đời, Đảng đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng khối ĐĐKDT, quan tâm phát triển toàn diện và bền vững vùng dân tộc thiểu số (DTTS).
Đường lối đoàn kết dân tộc với nhiều chính sách cụ thể, phù hợp với các giai đoạn mà đất nước đã đạt được những thành tựu lớn. Bài viết đưa ra những giải pháp lớn để vùng đồng bào các DTTS phát triển bền vững, hội nhập với cả nước. Đề cập đến các chính sách dân tộc (CSDT) của Đảng và Nhà nước tác phẩm Nhận thức, thái độ, hành vi của của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp của Nguyễn Đình Tấn, Trần Thị Bích Hằng (2010) [84], đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về dân tộc và bình đẳng dân tộc; các chính sách dân tộc như: 134, 135,… Làm rõ thực trạng, sự cần thiết phải nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng DTTS đối với CSDT của Đảng và Nhà nước. Khái quát các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ của cộng đồng các DTTS, nhằm thực hiện tốt hơn các CSDT của Đảng và Nhà nước.
Bài viết “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc - một phương thức thực hành dân chủ tạo sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc” của Phạm Xuân Hằng (2010) [84], bài viết chỉ rõ ĐĐKTDT là nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong chiều dài lịch sử đấu tranh, giữ nước và dựng nước; việc tập hợp sức mạnh ĐĐKTDT là của MTTQ Việt Nam; giám sát và phản biện xã hội của MTTQ phản ánh được nguyện vọng, ý chí, lợi ích và quyền làm chủ của đông đảo nhân dân; theo tác giả bài viết thông qua phản biện xã hội của MTTQ góp phần phát huy quyền làm luan an 10 chủ của nhân dân tham gia xây dựng chính quyền, nâng cao chất lượng các quyết sách của Đảng và chính quyền nhân dân. Công trình Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử của Hội đồng Lý luận Trung ương (2011) [91], đã tập trung nhiều bài viết của nhiều nhà khoa học trong đó có bài viết của tác giả Đức Lượng “Đoàn kết, thống nhất, sức mạnh vô địch của Đảng ta”. Bài viết khái quát truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng và một số biểu hiện mất đoàn kết. Bài viết đưa ra một số giải pháp bước đầu nhằm tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Tác giả khẳng định: Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, hiệu lực, hiệu quả và xây dựng các tổ chức quần chúng rộng khắp hoạt động năng động, có hiệu quả là một biện pháp cơ bản để củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất của Đảng.