CHƯƠNG 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ ĐỊA LÍ HÀNH CHÍNH HUYỆN PHÚ GIÁO TRƯỚC NĂM 1999 1. Đặc điểm tự nhiên Huyện Phú Giáo nằm ở đông Bắc tỉnh Bình Dương. Phía đông giáp huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai), phái tây giáp huyện Bến Cát (Bình Dương), phía nam giáp huyện Tân Uyên (Bình Dương), phía bắc giáp huyện Đồng Phú (Bình Phước) [4, tr. Khi mới tái lập huyện năm 1999, Phú Giáo có diện tích là: 538,61 km2, đến nay: 544,44 km2 (năm 2018) [61, tr.
Nhìn tổng thể, Phú Giáo là “huyện có địa hình thoải lượn sóng và các dải đất hẹp ven sông Bé, đất có độ cao trung bình thấp và tương đối bằng phẳng. Trước đây vùng đất Phú Giáo hầu như là rừng rậm hoang vu, rừng Phú Giáo có nhiều loại gỗ quý như gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương, tếch, vên vên, …. Ngoài ra còn nhiều loại cây thuốc và muông thú quý hiếm như “voi, cọp, heo rừng, nai, khỉ,…” [5, tr. Hiện nay, rừng Phú Giáo đã bị thu hẹp rất nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của Mĩ tàn phá trong chiến tranh.
“Trong những chiến tranh diễn ra ác liệt, Mỹ – ngụy đã ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa căn cứ làm cho rừng cạn kiệt” [2, tr. Ngoài ra, sau khi đất nước được giải phóng, do sự khai phá của con người, nhiều loại động thực vật quý hiếm đã không còn nữa. Ngược lại, diện tích nông nghiệp đã tăng lên nhanh chóng với 32. Đất Phú Giáo chủ yếu là loại đất bazan xám, rất thích hợp cho các loại cây công nghiệp như cao su, điều, hồ tiêu và các loại cây ăn quả.
Riêng dải đất ven sông Bé là loại đất phù sa mới, trồng lúa và các loại rau đậu và hoa màu rất tốt. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu của huyện Phú Giáo là nhóm phi kim loại gồm có một số loại tiêu biểu như sau: 9 Cao lanh là loại đất sét trắng, một trong những nguồn nguyên liệu khoáng có giá trị và được sử dụng phổ biến ở Bình Dương xưa và nay. Từ lâu, nguồn nguyên liệu sét cao lanh được nhân dân địa phương khai thác sử dụng sản xuất đồ gốm và cung cấp nguyên liệu cho khu vực Lái Thiêu và Thủ Dầu Một là hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở vùng đất Nam Bộ, đã tồn tại hàng trăm năm nay. Ngoài việc sử dụng làm gốm, cao lanh còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau: chất độn trong sản xuất giấy, trong sản xuất cao su, phân bón, dược phẩm,… Công tác điều tra địa chất từ trước đến nay đã phát hiện mỏ cao lanh ở Phú Giáo tập trung ở Phước Vĩnh [50, tr.
Sét gạch ngói là nguồn nguyên liệu đất sét dùng để sản xuất gạch ngói. Tỉnh Bình Dương hiện nay có 3 cụm công nghiệp chế biến gạch ngói tập trung. Riêng ở Phú Giáo tập trung ở ấp Đồng Chinh xã Phước Hòa. Khu mỏ này do Hợp tác xã Thuận Lợi đầu tư thăm dò năm 2003 với sản lượng 130.
Thân khoáng sét nằm trong trầm tích hệ tầng Bà Miêu, bị phủ bởi lớp cát pha sét sẫm màu, chiều dày từ 4 đến 7 mét, trung bình là 4,8 mét. Thân khoáng sét có dạng lớp, chiều dày khá lớn trung bình là 15 mét. Sét có màu vàng nâu, nâu đỏ, mịn, dẻo, chất lượng rất tốt [50, tr. Hiện nay, việc khai thác sét gạch ngói đã được cơ giới hóa từ công đoạn xúc bốc đến vận chuyển, nhào trộn và đùn ép gạch mộc.
Công đoạn nung gạch ngói hầu hết bằng các lò thủ công truyền thống, đốt bằng củi hoặc than đá, tốn nhiên liệu, sản lượng thấp, chất lượng không cao, mà còn gây ô nhiễm môi trường, vì vậy, trong những năm gần đây, một số cơ sở đã đầu tư dây truyền công nghệ lò tuynel đốt bằng khí gaz có công suất lớn hàng chục triệu viên/năm, cho sản phẩm gạch ngói có chất lượng cao, ổn định, đúng quy chuẩn, đáp ứng được yêu cầu xây dựng công trình lớn. Cát trong trầm tích Holocen ở Phú Giáo phân bố chủ yếu trong lòng sông Bé. Các tích tụ cát thường tạo thành các dải có dạng kéo dài, uốn lượn theo địa hình đáy sông và hoàn toàn bị ngập nước, chỉ lộ ra khi nước ròng. 10 Sông Bé khá dài, nhưng lòng sông hẹp, dòng chảy mạnh chủ yếu trên nền đá dốc, tọa nên nhiều thác ghềnh, vì vậy khả năng bồi lắng cát không lớn.
Kết quả khảo sát đoạn hạ nguồn sông Bé đã phát hiện có 7 bãi cát nhỏ. Các bãi cát có chiều dài từ 250 đến 450 mét, chiều rộng từ 20 đến 50 mét, dày từ 0,5 đến 1,5 mét [50, tr. Cát màu vàng nhạt đến màu vàng nâu, có thành phần khoáng vật cát chủ yếu là thạch anh. Thành phần cát hạt chủ yếu từ hạt trung đến hạt thô: > 0,25mm: 59,45%; 0,25 – 0,10 mm: 33,45%; < 0,1 mm: 7,1% [49, tr.
Cát trên sông Bé có chất lượng rất tốt, đạt các chỉ tiêu làm vật liệu xây dựng, với trữ lượng khoảng 40. Tuy nhiên, các bãi cát trên sông Bé có quy mô nhỏ, điều kiện khai thác và vận chuyển khó khăn, triển vọng không đáng kể. Đá xây dựng, theo tiêu chuẩn quy định các loại đá được sử dụng làm vật liệu xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản về độ bền cơ học, khả năng chống thấm nước và một số tính chất cơ lí khác. Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến đá xây dựng phát triển rất nhanh chóng, Phú Giáo đã hình thành cụm công nghiệp khai thác chế biến đá quy mô lớn ở Phước Vĩnh và An Bình được các công ty Becamex, công ty khoáng sản và xây dựng Bình Dương, công ty công trình giao thông 710, đầu tư thăm dò và khai thác với sản lượng hàng trăm nghìn m3 đá các loại.
Đá ở Phú Giáo chủ yếu là loại đá granodiorit nguồn gốc magma xâm nhập, được các nhà địa chất xếp vào xâm nhập phức hệ Định Quán, tuổi Creta sớm [50, tr. Mặc dù diện phân bố khối granodiorit khá lớn, nhưng hầu hết chúng bị phủ bởi các trầm tích bở rời Kainozoi, chỉ lộ ra những diện tích nhỏ hẹp dọc theo suối Nước Vàng (An Bình), rạch Rạt (Phước Vĩnh). Đôi chỗ có những khối tảng lớn ven lòng suối, tạo nên những thác nước nhỏ với cảnh quan khá đẹp mắt. Khí hậu Phú Giáo cùng chung với chế độ khí hậu tỉnh “Bình Dương và vùng Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao” [21, tr.
Mỗi năm có 2 mùa, 6 tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) và 6 tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ trung bình từ 26oC – 34oC. Lượng mưa trung bình trên 11 địa bàn huyện là 1947,7 mm. Số ngày mưa trung bình là 163 ngày trong năm.
Huyện Phú Giáo hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hưởng của những cơn bão gần và áp thấp nhiệt đới. Ngoài mưa đất đai của Phú Giáo còn được tưới mát bởi nhiều sông suối chảy qua. Sông Bé dài 360 km, là một phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 mét [2, tr. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng “Sông Bé: ở cách huyện Phước Bình 2 dặm về phía tây bắc; phát nguyên từ hai sách Man là Vũ Tam và Vũ Viên, chảy về phía đông, vòng quanh các bến thôn Loan Vũ, trường giao dịch thôn Chính Mĩ lượn sang phía đông, chuyển sang phía bắc, quanh co 214 dặm đến trạm Sa Tân làm cửa sông Bé, rồi hợp với sông Phước Long” [41, tr.
Đoạn sông Bé chảy qua huyện Phú Giáo ngày nay dài 96 km, qua các xã An Thái, An Linh, Tân Hiệp, Vĩnh Hòa, Phước Vĩnh, Tam Lập. Lòng sông Bé hẹp, uốn khúc quanh co, vách sông dựng đứng, vào mùa mưa nước chảy xiết, mùa khô nước lại cạn nên ít thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển trên sông. Ngoài sông Bé, huyện còn nhiều nhánh sông suối lớn chảy qua như suối Giục, suối Giai, suối nước Vàng, suối Bàu Cỏ, Sà Mách, Nước Trong, suối Cái và nhiều con suối nhỏ khác. Về giao thông, đường giao thông quan trọng nhất chạy qua huyện là đường ĐT 741 nối thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương) với thành phố Đồng Xoài (Bình Phước).
Con đường này cùng với cầu sông Bé được xây dựng từ năm 1932. Thực dân Pháp cho xây dựng đường, lúc đó dùng để phục vụ việc vận chuyển chở mủ cao su và các thành phẩm cao su từ công ty cao su của tư bản Pháp. Về sau, con đường còn phục vụ việc kiểm soát và khai thác các vùng đất hoang vu ở đông bắc Phước Long [4, tr. Ngoài đường ĐT 741, huyện còn có khoảng 40 km đường liên huyện và hơn 100 km đường liên xã.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên và giao thông huyện Phú Giáo rất phù hợp và thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt là phát triển nông nghiệp, ngành kinh tế này hiện nay đang trở thành một thế mạnh của huyện. Đặc điểm kinh tế - xã hội 1. Đặc điểm kinh tế Địa hình, cảnh quan phong phú và đa dạng của huyện Phú Giáo là cơ sở cho sự hình thành những đặc trưng kinh tế nhiều loại hình đan xen, phù hợp và thích nghi với nó.
Cũng như các vùng khác của vùng đất Nam Bộ, xuất phát điểm của kinh tế Phú Giáo là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, được hình thành từ rất sớm, ngay từ thời kì xã hội nguyên thủy, nhờ vào hệ thống sông suối dày đặc kết hợp với loại đất xám và đất “phù sa mới hình thành ở vùng châu thổ sông Đồng Nai” [43, tr.16], được chứng minh bằng những di tích khảo cổ học mà “chủ nhân của nó là những cư dân nông nghiệp dùng rìu, cuốc để làm rẩy, là một bộ phận quan trọng của cư dân xứ Đồng Nai – Đông Nam Bộ thời tiền sử cách nay ba đến bốn ngàn năm” [7, tr. Điều này khẳng định kinh tế ở đây không phải hình thành từ sự kiện Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, thay mặt chúa Nguyễn xác lập địa lí hành chính.