chương 1, công trình dành nhiều luận bàn về khoa học giá trị, năng lực xác định giá trị, cũng như quan điểm biến đổi giá trị. Theo các tác giả, giá trị là “cái quy định mục đích của hoạt động”, do vậy giá trị nảy sinh từ những hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội. Công trình “Một số vấn đề về giá trị và hệ giá trị Việt Nam” [91] là sản phẩm của hai cuộc hội thảo khoa học do đề tài cấp Nhà nước KX 04.15/11-15 “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” thuộc chương trình KH & CN trọng điểm KX.04/11-15 “Nghiên cứu khoa học chính trị giai đoạn 2011- 2015” do tác giả Trần Ngọc Thêm chủ trì. Trong đó, đáng chú ý là các quan niệm về giá trị, Trần Ngọc Thêm quan niệm: “Giá trị là phẩm chất của khách thể được bộc lộ trong một hệ tọa độ C- K-T (Chủ thể- Không gian- Thời gian) cụ thể, trong đó phẩm chất của khách thể (là sự vật/hiện tượng, v.) được khúc xạ qua sự đánh giá của chủ thể (là con người) xét trong quan hệ giữa chủ thể với khách thể và giữa khách thể với nhau” [91, tr.
Theo quan niệm này, giá trị mang thuộc tính khách quan. Cùng trong công trình này, tác giả Dương Phú Hiệp trong bài viết “Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [91] nhấn mạnh tính chủ quan của các giá trị. Ông quan niệm giá trị là các tư tưởng bao quát được cùng nhau, tin tưởng mạnh mẽ ở một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc hoặc một thời đại về cái gì là đúng, sai, thiện, ác, xấu, tốt, hợp lý, không hợp lý. Nhấn mạnh thuộc tính chủ quan của giá trị, ông khẳng định thêm ở Việt Nam, thuật ngữ giá trị thường dùng để chỉ phẩm chất, phẩm giá, đức tính hay 16 tức là các giá trị đạo đức.
Đồng quan điểm này, tác giả Nguyễn Duy Bắc, tác giả Phan Thị Hà trong bài viết “Một số suy nghĩ về hệ giá trị của người Việt Nam” [91] cho rằng, giá trị là ý nghĩa và thường là có ích đối với người thừa nhận và theo nghĩa chung nhất, giá trị là “cái bộc lộ ra tường minh hay kín đáo từ bản thân sự vật, hiện tượng đối với con người” [91, tr. Công trình này cũng tập hợp nhiều quan điểm về hệ giá trị. Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng hệ giá trị được tạo thành bởi toàn bộ các giá trị của các khách thể cùng các quan hệ của chúng. Theo đó, các loại hình giá trị được phân loại thành giá trị văn hóa, giá trị con người, giá trị thực tế, giá trị định hướng, giá trị cốt lõi.
Nhấn mạnh tới tính định hướng của hệ giá trị, tác giả Nguyễn Thị Bích Phượng cho rằng, nếu như giá trị mang tính định hướng cho các thành viên trong cộng đồng thì “hệ giá trị là toàn bộ giá trị của nền văn hóa”. Đáng lưu ý là quan điểm của tác giả Hồ Sĩ Quý trong công trình này về giá trị và hê giá trị. Ông cho rằng việc xác định hệ giá trị của quốc gia- dân tộc như Việt Nam có thể hiểu theo ba nghĩa sau: 1) Chỉ bao gồm các giá trị đang tồn tại thực trong thực tế. Việc xác định hệ giá trị trước hết là gọi tên cho chính xác các giá trị thực đó.
2) Bao gồm các giá trị lý tưởng, kỳ vọng, có ý nghĩa định hướng đối với hành vi của con người, đối với hoạt động của các thiết chế xã hội và đối với chiều hướng phát triển của một dân tộc - quốc gia. 3) Bao gồm các giá trị vừa tồn tại thực trong thực tế, vừa là thiêng liêng, lý tưởng để định hướng hành động. Ngoài ra, có ý kiến của tác giả Dương Phú Hiệp trong cùng công trình trên về hệ giá trị, theo ông: Hệ giá trị (hay bảng giá trị) là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ có tính lịch sử cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định. Công trình “Một số vấn đề về giá trị và hệ giá trị Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm đã tập hợp nhiều bài viết giá trị khoa học liên quan trực tiếp tới các vấn đề của luận án nghiên cứu sinh thực hiện.
Nghiên cứu “Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” [91] tác giả Trần Ngọc Thêm là sự tiếp nối nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra bốn xu hướng chính hiện 17 nay khi nghiên cứu về định nghĩa giá trị. Xu hướng thứ nhất thuộc nhóm tác giả cho rằng giá trị là khách thể tức là giá trị thuộc về bản thân sự vật, hiện tượng; Xu hướng thứ hai thuộc nhóm tác giả cho rằng giá trị thuộc về chủ thể định giá; Xu hướng thứ ba thuộc nhóm tác giả quan niệm giá trị nằm trong các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; Xu hướng thứ tư thuộc nhóm tác giả nghiêng về ý kiến cho rằng giá trị tồn tại thế giới độc lập. Tác giả Lương Đình Hải trong bài viết “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [38] luận bàn nhiều vấn đề liên quan đến giá trị, hệ giá trị.
Tác giả cho rằng: Giá trị là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất cả những thứ được con người xem là có ý nghĩa nhất định với sự tồn tại, vận động và phát triển của con người. Theo tác giả, giá trị mang cả thuộc tính khách quan và thuộc tính chủ quan. Về quan niệm hệ giá trị, tác giả cho rằng: “Hệ giá trị hay bảng giá trị của một cộng đồng được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, được sàng lọc, gạt bỏ, bổ sung, tiếp biến và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau” [38, tr. Theo đó, hệ giá trị dù có biến đổi thường xuyên, liên tục, nhưng cũng có độ trễ so với những biến đổi của các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có tính ổn định tương đối, có sự bền vững, bất biến, “trường tồn” ở những mức độ và phạm vi nhất định.
Hệ giá trị được lưu giữ, truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành tài sản, hành trang của các thế hệ mang suốt cuộc đời. Do đó, ông khẳng định, cần phải phân định hệ giá trị con người và hệ giá trị xã hội. Điểm chung của chúng ở chỗ: Hai hệ giá trị này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, giao thoa với nhau, bởi vì, theo tác giả, những hệ giá trị cốt lõi trong hệ giá trị xã hội cũng phải có và thể hiện trong hệ giá trị con người; và ngược lại, những giá trị cốt lõi của hệ giá trị con người bao hàm và thể hiện một số những giá trị xã hội. Ông chỉ ra điểm khác biệt của chúng ở chỗ: hệ giá trị xã hội không thể là một tập hợp các giá trị con người.
Luận án kế thừa các quan niệm của tác giả về giá trị, hệ giá trị cũng như những phân tích của tác giả về cấu tạo của hệ giá trị, ông cho rằng hệ giá trị có các giá trị văn hóa, truyền 18 thống, các giá trị đạo đức, giá trị chung, giá trị phổ quát của nhân loại, của khu vực. nhưng giá trị đạo đức có “sức nặng riêng”, đặc biệt với các dân tộc như Việt Nam. Ngoài những công trình nghiên cứu trong chương trình cấp Nhà nước, ấn phẩm sách tham khảo kể trên, về vấn đề giá trị, hệ giá trị còn có một số bài viết đề cập tới như: Nguyễn Ngọc Vân (1996) với nghiên cứu “Về giá trị và quan hệ hệ giá trị chủ- khách thể” in trong tạp chí Thông tin lý luận (Số 11); Nguyễn Trọng Chuẩn (1998) trong nghiên cứu “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển” in trong Tạp chí Triết học (Số 2). Thời gian gần đây, một số bài viết liên quan về vấn đề này như: tác giả Nguyễn Thu Nghĩa với bài viết “Định hướng giá trị thẩm mĩ- một số vấn đề lý luận” (2020) in trong tạp chí Triết học (Số 6); Nguyễn Phú Trọng với bài viết: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển mới” in trong “Nhân dân điện tử” ngày 31 tháng 8 năm 2020.
là những nghiên cứu này có giá trị khoa học cho một số vấn đề lý luận và thực tiễn của luận án mà nghiên cứu sinh đang thực hiện. Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề giá trị, hệ giá trị nghiên cứu sinh đưa ra một số nhận xét như sau: + Các công trình nghiên cứu về giá trị, hệ giá trị trên thế giới phát triển khá đa dạng, tại những nước phát triển đã hình thành các viện, trung tâm chuyên nghiên cứu về giá trị đóng góp quan trọng trong việc định hướng những giá trị mang bản sắc của quốc gia mình. Đây là những đóng góp cơ bản và quan trọng cho lý luận về giá trị đều xuất phát từ đây. + Ở Việt Nam hiện có ba khuynh hướng chủ đạo nghiên cứu về giá trị: khuynh hướng thứ nhất cho rằng giá trị mang tính khách quan; khuynh hướng thứ hai khẳng định giá trị mang tính chủ quan; Khuynh hướng thứ ba quan niệm cho rằng giá trị mang cả tính khách quan và tính chủ quan, khuynh hướng này được nhiều tác giả đồng tình.
Trong đó, trong những nghiên cứu về hệ giá trị, giá trị đạo đức được các nhiều học giả luận bàn hơn. Các công trình liên quan đến hội nhập quốc tế, tác động và yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với hệ giá trị con người Việt Nam Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường hiện đại đã và đang là xu thế nổi bật của thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.