Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LY LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG 1. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 1. Quan điểm sai trái, thù địch * Quan niệm về quan điểm sai trái Theo Từ điển Tiếng Việt, “quan điểm” được hiểu theo hai nghĩa: 1. Điểm xuất phát quy định hướng suy nghĩ, cách xem xét, đánh giá về một sự vật, hiện tượng nào đó: Quan điểm giai cấp; có quan điểm sống đúng đắn.
Cách nhìn, cách suy nghĩ: Trình bày rõ quan điểm của mình; bất đồng quan điểm”. “Sai trái” là không đúng, không phù hợp với lẽ phải: việc làm sai trái, hành động sai trái. Như vậy, sai trái có cả ở trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Sai trái trong nhận thức, được biểu hiện ở những hiểu biết (tri thức) không đúng, sai lầm, những tri thức này trái với những tri thức đúng, tức là trái với chân lý.
Như vậy, quan điểm sai trái là cách nhìn nhận, đánh giá lệch lạc, không đúng với thực tế, trái với lẽ phải và các chuẩn mực xã hội. Đó là những quan điểm đi ngược lại đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước; những quan điểm phủ nhận, đả kích, kỳ thị trong xã hội; những quan điểm lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học; những quan điểm trái với đạo lý, lý tưởng. * Quan niệm về quan điểm sai trái, thù địch Theo Từ điển tiếng Việt, “thù địch” là kẻ ở phía đối lập, có mối hận thù một cách sâu sắc. Quan điểm thù địch, trước hết là quan điểm sai trái, nhưng đối lập về lợi ích và lập trường giai cấp của một chủ thể với một chủ thể khác.
Chủ thể của quan điểm thù địch thường là chủ thể đối lập về lập trường tư tưởng, chính trị, về lợi ích giai cấp, quốc gia, dân tộc. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến quan điểm thù địch là do đối lập nhau về lợi ích và lập trường giai cấp, nguyên nhân trực tiếp là do mục đích, động cơ của chủ thể. 11 Quan điểm sai trái, xét về mặt lập trường giai cấp, tuy không phải là quan điểm thù địch, nhưng trong những trường hợp cụ thể, có thể có quan điểm sai trái cụ thể trùng với quan điểm thù địch. Trong những trường hợp này, chủ thể của quan điểm sai trái là đồng minh tự nhiên của chủ thể có quan điểm thù địch tương tự.
Nhưng ngay cả ở đây, lập trường của hai chủ thể này là hoàn toàn khác nhau. Họ chỉ ngẫu nhiên có sự “gặp nhau” về mặt quan điểm. Rõ ràng, cùng một nội dung quan điểm giống nhau, nhưng động cơ và mục đích của các chủ thể là hoàn toàn khác nhau. Do đó, không thể đánh đồng bản chất cũng như mục đích của các quan điểm là như nhau.
Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu: Quan điểm sai trái, thù địch là những quan điểm đối lập với đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, được sử dụng để chống phá, chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. Những quan điểm của các chủ thể (cá nhân, tổ chức…) gây nên những tác hại về mặt nhận thức, tư tưởng trong xã hội, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia - dân tộc và nhân dân Việt Nam; chống lại Đảng Cộng sản, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; xâm hại an ninh quốc gia, đến độc lập, tự chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam…được xem là quan điểm sai trái, thù địch. Quan điểm sai trái có thể là của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhân dân. Quan điểm thù địch là quan điểm của các thế lực thù địch.
Nhưng, như trên đã nói, quan điểm sai trái cũng có thể trở thành quan điểm thù địch khi mức độ sai trái trở nên nghiêm trọng, nó không còn là sai trái về mặt nhận thức, quan điểm mà chuyển thành sai trái trong cả lập trường chính trị, lợi ích giai cấp. * Tiêu chí xác định quan điểm sai trái, thù địch Thứ nhất, quan điểm đó không đúng về mặt chính trị (lập trường giai cấp). Về thực chất, quan điểm đó không xuất phát từ lợi ích, lập trường của giai cấp, của dân tộc, đi ngược với lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ hai, quan điểm đó không đúng về mặt khoa học, nghĩa là nó không phản ánh, không mang lại một giá trị khoa học thực sự; đối tượng mà nó phản 12 ánh là không rõ ràng; mang nặng tính chủ quan, thiên kiến, tư biện và thiếu tính khách quan khoa học trong phương pháp xem xét; luận giải thiếu tường minh, ngụy biện, thiếu tính tin cậy.
Thứ ba, quan điểm đó phản ánh sai trái thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia, thổi phồng tiêu cực, làm tăng mâu thuẫn, bóp méo chính sách thực tế với mục đích làm sụp đổ chế độ chính trị, làm tan rã hệ thống chính quyền, gây mất đoàn kết trong nhân dân; hướng đến mục tiêu thiết lập nên một chế độ chính trị, một chính quyền mới theo ý đồ của chủ thể. * Một số biểu hiện của quan điểm sai trái, thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay Một là, phủ nhận hoàn toàn, hoặc phủ nhận những nội dung cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của ĐCSVN, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta (phủ định sạch trơn và phủ định có chủ đích, có chọn lọc). Hai là, chia cắt các bộ phận, các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chia cắt tư tưởng của các nhà kinh điển; chia cắt tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm của Đảng ta. Ba là, xuyên tạc, bóp méo nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của ĐCSVN.
Bốn là, đem đối lập một cách siêu hình, phiến diện và khiên cưỡng lý luận và thực tiễn để vừa phủ nhận lý luận khoa học vừa phủ nhận thực tiễn cách mạng của chúng ta; đánh đồng những hạn chế của lý luận và thực tiễn; dùng những sai lầm, hạn chế của thực tiễn do chủ quan của chúng ta để làm căn cứ phủ định lý luận, cho lý luận đang cản đường thực tiễn. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam * Nền tảng tư tưởng của Đảng Về mặt từ ngữ, “nền tảng tư tưởng” được hợp thành bởi hai thành tố “nền tảng” và “tư tưởng”. Theo Từ điển Tiếng Việt, “nền tảng” là bộ phận vững chắc dựa trên đó các bộ phận khác tồn tại và phát triển; “tư tưởng” là sự phản ánh 13 hiện thực trong ý thức, là biểu hiện về quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Nghiên cứu khái niệm “nền tảng tư tưởng” theo góc độ chính trị học, không thể ghép cơ học hai thành tố “nền tảng” và “tư tưởng” mà “tư tưởng” phải được hiểu theo nghĩa “hệ tư tưởng” đó là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa thành lý luận, thành học thuyết về xã hội, phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định được giai cấp đó thừa nhận và truyền bá.
Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu: Nền tảng tư tưởng của một chính đảng là những quan điểm, quan niệm, luận điểm mang tính nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc ở những giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy, bất cứ chính đảng nào cũng phải dựa trên một nền tảng tư tưởng nhất định. Bởi vì, nền tảng tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các chính đảng. Nó là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tổ chức và hoạt động của mỗi chính đảng và quy định bản chất giai cấp của chính đảng đó.
Nền tảng tư tưởng còn là cơ sở để tập hợp lực lượng, định hướng hoạt động của các chính đảng. Đồng thời, trên cơ sở nền tảng tư tưởng của mình, mỗi chính đảng đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách và truyền bá đến quần chúng, gây dựng niềm tin, lôi kéo sự ủng hộ của quần chúng đối với mình. Khi chính đảng trở thành đảng cầm quyền, nền tảng tư tưởng sẽ được thể chế hóa, cụ thể hóa thành đường lối, chính sách về phát triển đất nước và pháp luật để lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Nền tảng tư tưởng của đảng nào đó được quần chúng thừa nhận và ủng hộ nó hoàn toàn phụ thuộc vào việc tư tưởng đó có đáp ứng được nguyện vọng của đa số quần chúng hay không.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. * Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam ngay khi ra đời đã xác định, chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”. Nghĩa là, nền tảng tư tưởng của ĐCSVN là chủ nghĩa Mác - 14 Lênin.
Cùng với sự phát triển của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới, ĐCSVN đã từng bước hoàn chỉnh, bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Tại Đại hội VII của ĐCSVN (1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh ghi rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống tư tưởng, quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ ra lực lượng, con đường, phương thức đạt mục tiêu đó gồm ba bộ phận thống nhất hữu cơ không thể tách rời nhau gồm: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin và CNXH khoa học.