Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" do tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy thực hiện, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số đào tạo sau đại học thuộc nhóm chuyên ngành triết học - chính trị xã hội). Luận án được đặt trong bối cảnh Đảng và Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", trong đó xác định gia đình là tế bào của xã hội, giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc.
Cơ sở chính trị - pháp lý của công trình dựa trên các văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ lấy ngày 28 tháng 6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam, cùng Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Mặc dù là cái nôi văn hóa, có tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân trí cao, phong trào xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH) tại đây vẫn tồn tại nhiều bất cập: nhận thức về giá trị gia đình truyền thống (GĐTT) chưa thống nhất; chưa cụ thể hóa đầy đủ giá trị GĐTT vào bộ tiêu chuẩn, tiêu chí của danh hiệu GĐVH; quản lý nhà nước về công tác gia đình chưa đủ mạnh; một bộ phận người dân chưa phân biệt được giá trị tích cực cần kế thừa với các hủ tục lạc hậu cần loại bỏ, cũng như lúng túng về phương thức triển khai.
Mục đích nghiên cứu của tác giả là trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy các giá trị này đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài liên quan đến luận án.
- Khái quát cơ sở lý luận phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH.
- Làm rõ thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH và vấn đề đặt ra hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giá trị GĐTT và hoạt động phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình trong xây dựng GĐVH, bao gồm 4 nhóm: giá trị đạo đức; giá trị giáo dục; giá trị tâm lý, tình cảm; giá trị ý thức cộng đồng.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế tại 6 tỉnh đại diện cho vùng ĐBSH gồm: Hà Nội (trung tâm vùng, thủ đô cả nước); Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên (khu vực phía Bắc vùng ĐBSH); Thái Bình, Nam Định (khu vực phía Nam vùng ĐBSH).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn thời kỳ đổi mới, trọng tâm từ khi ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) đến thời điểm tiến hành khảo sát thực địa (năm 2016).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành các nhóm công trình trong và ngoài nước:
Các nghiên cứu nước ngoài tập trung vào sự biến đổi cấu trúc gia đình dưới tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa: William J. Goode trong World Revolution and Family Patterns phân tích biến đổi quy mô, hôn nhân tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tiểu vùng Sahara và các nước Ả Rập; Michael Anderson với Family structure in nineteeth century Lancashir khảo sát mối quan hệ họ hàng của giai cấp lao động thế kỷ 19 trước và trong nạn đói Ai Len; Jessie Bernard trong The future of marriage nghiên cứu hành vi hôn nhân và bình đẳng giới; Janet Finch với Family obligations and social change làm rõ các khái niệm nghĩa vụ, trách nhiệm gia đình dưới áp lực an sinh xã hội thế kỷ 20; Jones, Lorne Tepperman, Susannach J. Wilson trong The futures of the Family dự báo các mô hình gia đình mới; Elaine Leeder trong The Family in Global Prespective - A Gendered Journey so sánh liên văn hóa giữa phương Tây với châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh về tác động của toàn cầu hóa đến quan hệ gia đình.
Các nghiên cứu trong nước được tác giả phân loại theo 4 mảng chính:
- Nghiên cứu về gia đình và giá trị GĐTT: Nhóm lý luận chung có Mai Huy Bích (Xã hội học gia đình), Lê Trọng Ân (Tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước), Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (Gia đình học), Lê Thị Quý (Quản lý nhà nước về gia đình: lý luận và thực tiễn). Nhóm nghiên cứu nghi lễ, tập tục gồm Lê Minh (Những tình huống ứng xử trong gia đình), Vũ Văn Khiếu (Đất lề quê thói), Bùi Xuân Mỹ (Lễ tục trong gia đình người Việt Nam). Nhóm văn hóa phong tục toàn diện gồm Toan Ánh (Nếp cũ, con người Việt Nam, phong tục cổ truyền), Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao và Hoàng Văn Thụ (Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam). Nhóm văn hóa truyền thống gắn với con người Việt Nam có Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang (Chương trình KX-07-02: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay), Trần Văn Giàu (Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam), Trần Quốc Vượng (Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm - trọng tâm phần tâm thức văn hóa cư dân châu thổ Bắc Bộ), Phạm Xuân Nam (Gia đình Việt Nam - các giá trị truyền thống), Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa), Đặng Cảnh Khanh (Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống), Đặng Phương Kiệt (Gia đình Việt Nam những giá trị truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội), Nguyễn Thế Long (Gia đình - Những giá trị truyền thống).
- Nghiên cứu về thực trạng và biến đổi gia đình Việt Nam: Các công trình của Nguyễn Hữu Minh (Gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh), Nguyễn Linh Khiếu (Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hoá xã hội ở nông thôn), Lê Thi (Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới), Dương Thị Minh (Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay), Lê Ngọc Văn (Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam); cùng hệ thống luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình, Nghiêm Sĩ Liêm, Nguyễn Thị Thọ, Phạm Thị Bình, Nguyễn Thị Minh Phương, Đoàn Thị Thanh Huyền, Lê Văn Hùng.
- Nghiên cứu về GĐVH và phong trào xây dựng GĐVH: Gồm sách chuyên khảo và bài báo của Trần Hữu Tòng và Trương Thìn (Xây dựng Gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới), Hoàng Bích Nga (Để có một gia đình văn hóa), Vũ Ngọc Khánh (Văn hoá gia đình Việt Nam), Đỗ Thị Thạch (Về xây dựng Gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng), An Thị Ngọc Trinh (Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trong xây dựng văn hoá gia đình Việt Nam hiện nay), Trần Thị Tuyết Mai, Phan Văn Phờ.
- Nghiên cứu về gia đình tại vùng ĐBSH: Các công trình của Mai Huy Bích (Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng), Khuất Thu Hồng (Gia đình truyền thống - Một số tư liệu nghiên cứu xã hội học), Tô Duy Hợp (Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam hiện nay (ở Đồng bằng sông Hồng)), Phan Hồng Giang (Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long), Lê Thị Thanh Hương (Ứng xử của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong gia đình), Nguyễn Hữu Minh (Đời sống văn hóa của cư dân Hà Nội), Vũ Thị Huệ (Sự biến đổi của văn hóa gia đình đô thị ở Hà Nội từ 1986 đến nay), Nguyễn Thị Ngân (Sự biến đổi của chức năng gia đình ở vùng Đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hiện nay), Lê Văn Thư (Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo phát triển văn hóa - xã hội trong giai đoạn hiện nay).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm 5 điểm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở Việt Nam còn rời rạc, chưa có tính hệ thống.
- Nội dung giá trị GĐTT của người Việt trên phạm vi cả nước và vùng ĐBSH chưa được xác định đầy đủ, thống nhất.
- Chưa phân tích sâu sắc tính tất yếu và sự cần thiết của việc phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH tại ĐBSH.
- Việc phân tích thực trạng phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH tại vùng ĐBSH chưa mang tính bao trùm, hệ thống.
- Các giải pháp đề xuất còn mang tính đơn lẻ; đặc biệt chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu đề tài này dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Vị trí của luận án: Là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận vấn đề phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH một cách toàn diện từ góc độ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
- Cơ sở lý luận: Hệ thống nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về gia đình và xây dựng GĐVH.
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Khái niệm và khung phân tích:
- Gia đình: Tiếp cận theo Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam và định nghĩa chính thức trong Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: "Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt được hình thành và phát triển trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, đồng thời có sự gắn kết về kinh tế - vật chất, qua đó nảy sinh những nghĩa vụ và quyền lợi giữa các thành viên".
- Gia đình truyền thống Việt Nam: Xác định là sản phẩm của xã hội nông nghiệp cổ truyền, tồn tại và phát triển ở cả nông thôn và thành thị, chịu ảnh hưởng hoặc ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, mang tính ổn định, phản ánh bản sắc văn hóa bản địa qua các thế hệ.
- Gia đình văn hóa: Xác định là một kiểu gia đình mới của xã hội xã hội chủ nghĩa, có quy mô nhỏ (gia đình hạt nhân, 1 đến 2 con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, gương mẫu chấp hành pháp luật và gắn kết cộng đồng xóm giềng.
- Khung phân tích giá trị GĐTT: Gồm 4 trục nội dung: giá trị đạo đức, giá trị giáo dục, giá trị tâm lý - tình cảm, giá trị ý thức cộng đồng.
- Khung phương thức tác động: Tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, ám thị và nêu gương.
- Khung chủ thể: Gia đình (chủ thể nền tảng), cộng đồng xã hội (hệ thống chính trị cơ sở, dòng họ, làng xã), nhà trường.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp định tính và lý thuyết: Lôgic - lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp tư liệu văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, báo cáo hành chính nhà nước và các tài liệu thứ cấp đã xuất bản.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (định lượng): Luận án tiến hành điều tra thực nghiệm nhằm đo lường thực trạng nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục và vai trò của các chủ thể.
| Tiêu chí |
Thông số kỹ thuật của cuộc điều tra |
| Quy mô mẫu |
900 phiếu hỏi |
| Phân bổ địa bàn |
6 tỉnh đại diện ĐBSH (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định) |
| Định mức mẫu từng tỉnh |
150 phiếu hỏi/tỉnh |
| Đối tượng khảo sát |
Người dân đã hoàn thành giáo dục phổ thông, đủ năng lực nhận thức và đánh giá |
| Thời gian thực địa |
Từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến gia đình truyền thống, gia đình văn hóa và vùng đồng bằng sông Hồng thành 2 tiết:
- Tiết 1.1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài (gồm nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu trong nước về giá trị GĐTT, nghiên cứu về thực trạng biến đổi gia đình, nghiên cứu về GĐVH và các công trình về gia đình vùng ĐBSH).
- Tiết 1.2: Giá trị của các công trình đã được tổng quan và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án (tổng kết 4 giá trị tham khảo cốt lõi và xác định rõ 5 khoảng trống lý luận, thực tiễn mà luận án tập trung giải quyết).
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, cấu trúc giá trị, phương thức, chủ thể và tính tất yếu khách quan của vấn đề nghiên cứu:
- Định nghĩa và đặc trưng của GĐTT: GĐTT gắn liền với phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước, kinh tế tự cung tự cấp, tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền.
- Quan niệm và 5 đặc trưng của GĐVH: (1) Sản phẩm của xã hội mới định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Quy mô nhỏ (hạt nhân, 2 thế hệ), ít con, kết hôn đúng pháp luật; (3) Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối, pháp luật; (4) Kết hợp giá trị GĐTT với các yếu tố văn minh, tiến bộ; (5) No ấm, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững.
- Bốn nội dung giá trị GĐTT cần phát huy:
- Giá trị đạo đức: Vợ chồng yêu thương, tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận (lọc bỏ sự lệ thuộc, bất bình đẳng đối với phụ nữ); Cha mẹ - con cái giữ đạo từ, hiếu, đức hy sinh (tránh yêu thương mù quáng hoặc nghe lời máy móc); Ông bà - con cháu gương mẫu, hiếu thảo (khắc phục tính gia trưởng, áp đặt); Anh chị em hòa thuận, thương yêu (xóa bỏ tư tưởng "quyền huynh thế phụ").
- Giá trị giáo dục: Giáo dục gia đạo, gia phong, gia lễ; giáo dục học tập văn hóa, tính cần cù, hiếu học; giáo dục lao động và tính tự lập; giáo dục giới tính (loại bỏ quan niệm Nho giáo hà khắc như trọng nam khinh nữ, tam tòng).
- Giá trị tâm lý, tình cảm: Xây dựng gia đình thành tổ ấm chở che, điểm tựa tinh thần, tái tạo sức lao động và giảm thiểu xung lực tiêu cực từ mặt trái kinh tế thị trường, đô thị hóa.
- Giá trị ý thức cộng đồng: Gắn kết "nhà - làng - nước", tinh thần tương thân tương ái, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, lòng yêu nước; khắc phục tâm lý cào bằng, tư tưởng tập thể bình quân chủ nghĩa triệt tiêu tính chủ động cá nhân.
- Phương thức phát huy: Kết hợp tuyên truyền, giáo dục (tương tác hai chiều), thuyết phục (bằng lập luận, chứng cứ), ám thị (sử dụng pa nô, áp phích, hình tượng văn hóa trực quan) và nêu gương người tốt, việc tốt, gia đình tiêu biểu.
- Chủ thể phát huy: Xác định mối quan hệ phối hợp giữa gia đình (chủ thể trung tâm), cộng đồng xã hội (hệ thống chính trị cơ sở, dòng họ, làng xã) và nhà trường.
- Sự cần thiết gắn với Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH đến năm 2020 theo Quyết định số 795/QĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ:
| Mục tiêu phát triển vùng ĐBSH đến năm 2020 |
Chỉ tiêu theo Quyết định số 795/QĐ-TTg |
| Tỷ trọng đóng góp vào GDP cả nước |
Tăng từ 24,7% (năm 2010) lên 28,7% (năm 2020) |
| Đóng góp kim ngạch xuất khẩu cả nước |
Đạt 35,0% |
| Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu |
16 - 18%/năm; xuất siêu bình quân 3 - 4 tỷ USD/năm |
| Năng suất lao động năm 2020 |
Gấp ít nhất 2,3 lần so với năm 2010 |
| Cơ cấu kinh tế vùng (GDP) |
Nông nghiệp: 7 - 7,5%; Công nghiệp - xây dựng: 45 - 47%; Dịch vụ: 46 - 48% |
| Tốc độ đổi mới công nghệ bình quân |
Khoảng 20%/năm |
| Giải quyết việc làm hàng năm |
300 - 350 nghìn lao động |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề |
Đạt mức 80% (trình độ chuyên môn kỹ thuật có bằng đạt trên 40%) |
Chương 3: Thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề đặt ra hiện nay
Nội dung chương triển khai theo 2 tiết lớn của kết cấu luận án:
- Tiết 3.1: Thực trạng phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay: Trình bày các kết quả phân tích số liệu điều tra xã hội học định lượng (900 phiếu) tại 6 tỉnh về các mặt biểu hiện cụ thể của giá trị đạo đức, giáo dục, tâm lý, ý thức cộng đồng; đánh giá hiệu quả của các hình thức tuyên truyền, giáo dục, nêu gương và vai trò thực tế của hệ thống chính trị cơ sở.
- Tiết 3.2: Những vấn đề đặt ra từ việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay: Nhận diện những mâu thuẫn giữa lối sống gia đình truyền thống với lối sống đô thị hóa nhanh; nguy cơ rạn nứt cấu trúc gia đình, ly hôn, bạo lực gia đình; hiện tượng bảo lưu tư tưởng trọng nam khinh nữ gây mất cân bằng giới tính khi sinh; tình trạng thương mại hóa, hình thức hóa phong trào công nhận danh hiệu GĐVH tại cơ sở.
Chương 4: Quan điểm và những giải pháp nhằm phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
Chương 4 hoàn thiện mục tiêu nghiên cứu với 2 nội dung chính:
- Tiết 4.1: Những quan điểm cơ bản phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay: Định hướng phát huy có chọn lọc ("gạn đục khơi trong"), gắn kết truyền thống với hiện đại; đặt công tác gia đình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của vùng.
- Tiết 4.2: Những giải pháp chủ yếu phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay: Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về nâng cao nhận thức hệ thống chính trị; đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền; hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước; phát huy vai trò tự quản của cộng đồng làng xã, dòng họ; tăng cường phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án được tác giả tự xác định:
- Về lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phương thức, chủ thể và sự cần thiết khách quan của việc phát huy giá trị GĐTT trong xây dựng GĐVH tại vùng ĐBSH dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học; chuẩn hóa định nghĩa GĐVH gồm 5 đặc trưng bản chất trong giai đoạn hiện nay.
- Về thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực trạng có căn cứ định lượng (từ cuộc điều tra xã hội học 900 phiếu tại 6 địa phương) về nhận thức và hành vi phát huy các giá trị đạo đức, giáo dục, tâm lý, ý thức cộng đồng của cư dân vùng ĐBSH; vạch rõ những vấn đề bức xúc, hạn chế đang đặt ra.
- Về giải pháp: Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu có tính khả thi, gắn liền với việc thực hiện Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSH và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế và phạm vi mở rộng của đề tài thể hiện qua các đặc điểm thực tế:
- Về phạm vi mẫu khảo sát: Luận án mới tiến hành điều tra trên 6 tỉnh đại diện (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định) với quy mô 900 phiếu, chưa thể bao quát toàn bộ 11 tỉnh, thành phố của vùng ĐBSH.
- Về đối tượng khảo sát: Chỉ tập trung vào nhóm dân cư đã qua giáo dục phổ thông, chưa khảo sát sâu nhóm thanh thiếu niên hoặc các nhóm đối tượng đặc thù khác.
- Về thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực nghiệm phản ánh giai đoạn từ 1998 đến thời điểm khảo sát năm 2016. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần cập nhật sự biến đổi của gia đình văn hóa trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội sau năm 2020.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với các nhóm đối tượng sau:
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tư liệu chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về gia đình, xây dựng gia đình văn hóa thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học, chính trị học, văn hóa học và phụ nữ học.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ lý luận và số liệu thực nghiệm phục vụ việc xây dựng, sửa đổi tiêu chí bình xét danh hiệu GĐVH tại các tỉnh vùng ĐBSH, cũng như triển khai chính sách xã hội, phòng chống bạo lực gia đình và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
Luận án định nghĩa gia đình văn hóa bao gồm những đặc trưng cơ bản nào?
Theo tác giả, gia đình văn hóa là kiểu gia đình mới gồm 5 đặc trưng: là sản phẩm của xã hội mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thường có quy mô nhỏ (gia đình hạt nhân, 2 thế hệ), ít con (1 đến 2 con) và kết hôn đúng luật; gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định địa phương; kết hợp hài hòa giá trị GĐTT với các yếu tố tiến bộ, nhân văn của thời đại; là gia đình no ấm, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.
Những giá trị gia đình truyền thống cụ thể nào được luận án xác định cần kế thừa và phát huy?
Luận án xác định 4 nhóm giá trị: (1) Giá trị đạo đức (vợ chồng thủy chung, hòa thuận; cha mẹ - con cái từ hiếu, hy sinh; ông bà - con cháu gương mẫu; anh chị em yêu thương, đoàn kết); (2) Giá trị giáo dục (gia đạo, gia phong, gia lễ; hiếu học; giáo dục lao động, tự lập và giới tính); (3) Giá trị tâm lý, tình cảm (tổ ấm yêu thương, điểm tựa tinh thần); (4) Giá trị ý thức cộng đồng (gắn bó nhà - làng - nước, tình làng nghĩa xóm, đoàn kết dân tộc).
Cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm của luận án được tiến hành với quy mô và địa bàn ra sao?
Cuộc khảo sát định lượng được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016, với tổng quy mô 900 phiếu hỏi phân bổ đều cho 6 tỉnh đại diện thuộc vùng ĐBSH (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định - mỗi tỉnh 150 phiếu). Đối tượng được hỏi là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, có đủ năng lực nhận thức quá trình tiếp nhận giá trị GĐTT từ nhỏ đến tuổi trưởng thành.
Luận án nêu những phương pháp chủ yếu nào để phát huy giá trị gia đình truyền thống?
Luận án chỉ ra 5 phương pháp chính gồm: tuyên truyền (qua các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông cơ sở), giáo dục (tương tác hai chiều trong gia đình, nhà trường và xã hội), thuyết phục (dùng lập luận, chứng cứ), ám thị (dùng biểu tượng trực quan, tranh ảnh, pa nô, áp phích tạo ấn tượng tâm lý) và nêu gương (sử dụng người uy tín, điển hình tiên tiến làm hình mẫu).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kế thừa, phát huy các giá trị gia đình truyền thống trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mác-xít với điều tra xã hội học thực nghiệm tại 6 địa phương, công trình đã xác lập hệ thống 4 nhóm giá trị cốt lõi, đánh giá thực trạng và chỉ ra các mâu thuẫn nảy sinh trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị và hoạch định chính sách gia đình tại Việt Nam.