CHƯƠNG 1. BOL CANH QUOC TẾ VÀ TINH HÌNH VIỆT NAM TRONG KHANG CHIEN CHONG Mi, CỨU NƯỚC (1954 - 1975) 1. Bối cảnh quốc tế và Việt Nam trong kháng chiến chống Mi, cứu nước (1954 - 1964) 1.1 Béi cảnh quốc tế giai đoạn 1954 — 1964 Giai đoạn 1954 đến năm 1964, tình hình thé giới ghi nhận sự leo thang căng thăng của Chiến tranh lạnh, đại diện là hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô. Cuộc chạy đua vũ trang lẫn chính trị nhằm thúc đây liên minh trong hai phe dién ra bat phân thắng bại.
Có thé nói, giai đoạn năm 1954 - 1964 là thời kỳ day biến động của lịch sử thế giới, là thách thức lớn đôi với hòa bình và ôn định toàn cầu. Sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản trở thành môi đe dọa cho các nhà nước tư bản chủ nghĩa nói chung, bao gồm Hoa Kỳ. Vi thé, trong giai đoạn này, Hoa Ky đã trực tiếp tham gia vào các cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa cộng sản hình thành ở các nước. trong đó có chiến tranh Việt Nam, cách mạng Cuba, cuộc chiến tranh Algeria.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn nay, phần lớn châu Âu va Nhật Bản đã trải qua thời kỳ phục hồi kinh tế đáng kẻ sau Thể chiến II, với sự phát triển công nghiệp va tăng trưởng kinh tẻ, cụ thé như sau: O Mi, sau chiến tranh thé giới thứ hai đã phát triển trở thành nước giàu và mạnh, chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên từ năm 1954 đến năm 1964, Mi bước vào thời kỳ cạnh tranh gay gắt với các nước Tây Au, Nhật Ban. Vì vậy, dẫn đến tinh hình kinh tế Mĩ không ồn định, chính phủ đã thực hiện chính sách nhằm khắc phục tình hình, tuy nhiên bắt nguồn từ chính sách khắc phục, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng dẫn đến nước Mĩ những năm 1954 — 1964 rơi vào khủng hoảng, bên cạnh đó, chiến tranh xâm lược Việt Nam cũng lả một trong những nguyên nhân quan trọng làm kinh tế Mĩ suy sụp, địa vị nước Mĩ đang dần mắt dan vị thế đứng đầu. Sau Chiến tranh thé giới thứ hai, Mĩ đưa ra ba mục tiêu cho chiến lược toàn cầu đó là ngăn chặn, tiêu điệt hệ thông xã hội chủ nghĩa thé giới; đàn áp các phong trào giải phóng dân tộc; đồng thời, tập hợp các lực lượng phan động dưới sự lãnh dao của Mi.
Đề thực hiện mục tiêu đã nêu trên, Mĩ tiễn hành chạy dua vũ trang, phát triển lực lượng hạt nhân, lập các khôi quân sự với nhiều nước, xây dựng căn cứ quân sự, đồng thời viện trợ kinh tế cho các nước, cụ thê như: Tính bình quân mỗi năm trong thời kỳ 8 năm 1953 — 1960 là 5 tỷ dollar/ năm, trong đó sé viện trợ quân sự gan 3 ty dollar. Tỷ lệ viện trợ ưu tiên cho các khu quân sự là: Tây Âu 54%, Đông Nam A và Viễn Đông 24, 2%, Trung Cận Đông 14,9 %, các nơi khác 6, 9 %. Sau chiến tranh Mỹ có hơn 2.200 căn cử quân sự có mặt ở khắp các châu lục, 7 Hạm đội trải ra khắp 9 các đại dương, phái đoản quân sự và có vẫn Mỹ hoạt động ở 45 nước trên thể giới; nhiều loại vũ khí trang bị mới được ra đời như máy bay ném bom chiến lược B52, B47, tên lửa vượt đại đương có đầu đạn hạt nhân, tên lửa tam trung, tau ngầm nguyên tử trang bị tên lửa hạt nhân chiến thuật. (Hà Minh Hồng, 2005, tr.
172) Mi can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, tô chức din đến nhiều cuộc đảo chính ở khắp noi, dung lên những chính quyền thân Mĩ. Đồng thời Mĩ thực hiện viện tre kinh tế và quan sự như trong chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ. lấy Đông Đương làm nơi thí điểm chế độ thực dân mới của Mĩ. Tuy nhiên, sự thất bại của Mĩ trong các cuộc chiến xâm lược Đông Dương làm cho tình hình kinh tế, chính trị và quân sự gặp khủng hoảng.
Các nước Tây Au, từ sau Chiến tranh thé giới thứ hai (kế cả nước thắng trận và thua trận) đều bị tôn thất nặng nẻ, tình hình kinh tế bị kiệt qué. Các nước Tây Âu phải dựa vào viện trợ của Mi với kế hoạch phue hưng châu Au hoặc gọi với tên kế hoạch Marshall. Như vay, kinh tế va chính trị của các nước Tây Âu đều đã bị đặt dưới sự quản lí của Mi. Nhờ vào kế hoạch Marshall, tình hình Tây Âu từ nửa sau những năm 50 đã phục hỏi kinh tế, không chỉ phục hỏi mà bắt dau phát triển với tốc độ nhanh chóng dẫn tới cao hơn Mi!.
Các ngành cơ khí, hóa chất và năng lượng phát triển cao nhất, bên cạnh đó các mặt hàng tiêu dùng mới như 6 tô, tiện nghỉ sinh hoạt tăng lên rất nhiều?. Chang hạn, Cộng hòa liên bang Đức với sự giúp đỡ tích cực từ Mi, Anh, Pháp nên kinh tế phục hồi va phát triển nhanh chóng, đứng thir hai trong thé giới tư ban, sau Mĩ (trước năm 1968); với nước Italia cũng như Đức và Nhật, những năm 50, kinh tế phát triển với tốc độ cao. Tháng 9/1954 tại Manila, Mĩ thành lập Khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO) với sự tham gia của Mĩ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Pakistan, Thái Lan và Philippines còn Việt Nam Cộng Hòa, Lào và Campuchia dưới sự bảo hộ của SEATO dé ngăn chặn sự anh hưởng của xã hội chủ nghĩa xuống khu vực châu A. ! Kinh tế Tây Au phát triển nhanh do một số yếu tổ sau: Một 1a, các nước đã áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học — kĩ thuật hiện đại: hai là đã tận dụng tốt các nguồn viên trợ của Mi, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc thể giới thứ ba; ba là nhà nước có vai trò rất lớn trong việc quản lí.
2 *Về sản lượng công nghiệp, trong vong 25 năm (1950 — 1975) Italia tăng lên Š lin; Tây Đức — 4.3 lần (so với Mĩ — 2,5 lan)” (Nguyễn Anh Thái. 300) 10 Nhìn chung, giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1964 vừa là thời kỳ căng thăng leo thang của chiến tranh lạnh, vừa là thời kỳ chuyền tiếp đề khang định giá trị nhân quyên, sức mạnh dân tộc trong mỗi quốc gia. Cùng thời gian Mi và các nước Tây Âu tiến hành phát triển kinh tế, tình hình của các nước châu Á từ những năm 1954 đến năm 1964 gặp nhiều biến động. Bắt đầu từ ngày 5/3/1953.
sau khi Stalin qua đời Khrushchev được bau làm bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng san Liên Xô, sau đó kiêm chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. “Đường lối ngoại giao ma N.Khrushchev đưa ra là thi đua kinh tế, giải trừ quân bị và chung sông hòa bình với các nước có chế độ chính trị khác nhau” (Vũ Dương Ninh, 2014. Tuy nhiên, đường lỗi ngoại giao mà Liên Xô đưa ra đã gây nên nhiều xáo trộn, làm cho tình hình chính trị không ồn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút đồng thời đường lỗi ngoại giao Khrushchev không chỉ ảnh hưởng trong nước và với các nước Đông Âu, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, sự ra đời của Tô chức Hiệp ước Vacsava vào tháng 5/1955 của Liên Xô và các nước Đông Âu đối đầu cùng Tô chức Bắc Dai Tây Duong (NATO) năm 1949 đứng dau là Mĩ và các nước Tây Âu.
Sự thành lập của hai tô chức được xem như đánh dau sự hình thành hai phe trên thé giới đó là các nước thuộc tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, bối cảnh thé giới lúc bay giờ là bao trim bởi cuộc chiến tranh Lạnh. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào tháng 10/1949, đánh dau sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản từ Đông sang Tây trong giai đoạn từ 1945 đến 1954 là một sự thay đỗi to lớn trong bản đồ chính trị thé giới. Liên Xô và Trung Quốc đã kí với nhau Higp ước hữu nghị, liên mình và tương trợ vào ngày 14/2/1950, đại diện hai quốc gia là Stalin và Mao Trạch Đông. 3 Mục dich của đường lỗi ngoại giao ma Khrushchev đưa ra là dé nhằm tranh thủ vốn va kỹ thuật của Mĩ và Tay Au, vi vay Khrushchev đã chủ động de nghị với Nhà Trắng giảm bớt chạy dua vũ trang, giữ nguyên trạng của châu Au đây được xem là giai đoạn hòa hoãn của Xô — Mi, mỗi quan hệ hòa hoãn đó tạo ra những điều kiện quốc tế thuận lợi cho xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
Liên X6 e ngại phong trảo giải phóng dân tộc sẽ như dém lứa cháy rừng anh hưởng đến mục tiêu chiến lược của Liên Xô. cản trở sự hòa hoãn với các nước dé quốc nhất là với Mi. 3 Liên Xô với chủ trương giữ nguyên trạng ở miễn Nam và chủ trương hỏa bình đẻ thi hành Hiệp định Geneve. Muốn miễn Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
phát triển kinh tế vả giải quyết van dé miễn Nam bằng con đường hòa binh. * Chiến tranh Lạnh: không chỉ có van đẻ thành lập các tổ chức quân sy, kinh tế mà còn cả van dé quân sự, nhằm muốn ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản. II Giữa hai nước có mối quan hệ tốt đẹp, nhưng trên thực tế Trung Quốc muốn vươn lên làm lãnh đạo của thé giới thứ ba, muốn chiếm vị thé của Liên Xô trong sự ảnh hưởng đổi với các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đánh dau cho quan hệ giữa hai nước trở nên căng thang là tại Đại hội lần thứ XX (1956) của Đảng Cộng sản Liên Xô, Sự chia rẽ nội bộ của phe xã hội chủ nghĩa làm cho lực lượng cách mạng bị suy yếu, đồng thời mỗi quan hệ Xô — Trung đã lan sang lĩnh vực đối ngoại điều đó đã gây bat lợi cho phong trào giải phóng dan tộc và phong trảo dau tranh vì hòa binh.
Từ chiến thăng Điện Biên Phủ của Việt Nam năm 1954, đã cô vũ tỉnh thân cho các quốc gia trên thể giới. Tiêu biéu là nhân dan Algeria (1954 — 1962), sự kiện kênh dao Suez (1956), Congo chống Bi (1960), Angola (1/1961), Mozambique chéng Bồ Dao Nha (5/1962), năm 1960 được gọi là năm chau Phi. Thắng lợi cách mạng ở Iraq (7/1958) làm tan vỡ Khối quân sự Baghdad (CENTO) do Anh — Mi dựng lên, thắng lợi cách mang Cuba năm 1959, Fidel Castro lãnh đạo cách mang Cuba thành công và tuyên bố đưa đất nước tiền theo con đường xã hội chủ nghĩa, sự kiện này đã trở thành lá cờ đầu trong phong trào chồng thực dân ở Tây bán câu.