Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước Lào và Campuchia trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 - 1975)" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Quỳnh Mai (MSSV: 46.066), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Hương tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (công bố tháng 4 năm 2024).

Sau Hiệp định Geneva năm 1954 về Đông Dương, quân đội viễn chinh Pháp buộc phải rút lui, hòa bình được lập lại trên bán đảo Đông Dương. Tuy nhiên, đế quốc Mĩ nhanh chóng can thiệp nhằm thế chân Pháp, thiết lập chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam và thực hiện các chiến lược chiến tranh phá hoại nhằm ngăn cản quá trình thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước kéo dài hơn hai thập kỷ (1954 - 1975) đòi hỏi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sự ủng hộ quốc tế, đặc biệt là củng cố khối đoàn kết liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao. Việc nghiên cứu toàn diện hoạt động đối ngoại của VNDCCH với hai quốc gia láng giềng Đông Dương là cơ sở để làm rõ bản chất của mối quan hệ liên minh đặc biệt và rút ra các bài học lịch sử cho thực tiễn hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 5 nội dung:

  1. Làm rõ đường lối, chính sách và mục đích đối ngoại của Nhà nước VNDCCH với Campuchia và Lào giai đoạn 1954 - 1975.
  2. Làm rõ liên minh Việt Nam - Lào trong phối hợp chiến đấu và việc tranh thủ sự giúp đỡ của Campuchia trong tiếp nhận, vận chuyển viện trợ vào chiến trường (1954 - 1970).
  3. Làm rõ sự phối hợp tác chiến giữa liên minh Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia chống đế quốc Mĩ (1970 - 1975).
  4. Nhận thức vị trí, tầm quan trọng của liên minh ba nước Đông Dương trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
  5. Rút ra các bài học lịch sử từ hoạt động ngoại giao với Lào và Campuchia nhằm vận dụng sáng tạo vào công tác đối ngoại trong bối cảnh hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu chính là các hoạt động ngoại giao của Nhà nước VNDCCH với Lào và Campuchia, đặt trong mối liên hệ với các sự kiện lịch sử quân sự - chính trị tác động trực tiếp đến quan hệ ba nước. Phạm vi không gian giới hạn trong quan hệ giữa Việt Nam, Lào và Campuchia. Phạm vi thời gian tập trung từ năm 1954 (sau Hiệp định Geneva) đến ngày toàn thắng 30/4/1975.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực từ các tài liệu lý luận chính trị và Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 2-3, 1995), bao gồm: khái niệm "Ngoại giao", "Chính sách", "Chính sách đối ngoại của Nhà nước VNDCCH" (dựa trên nguyên tắc hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi) và "Mục tiêu".

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Được vận dụng để thu thập, phân loại, phê phán và xử lý nguồn sử liệu theo trình tự thời gian, nhằm tái hiện khách quan, sinh động toàn bộ tiến trình hoạt động đối ngoại của VNDCCH với Lào và Campuchia từ năm 1954 đến năm 1975.
  • Phương pháp logic: Được sử dụng kết hợp nhằm phân tích bản chất, đánh giá vai trò, nhận định quy luật và làm sáng tỏ những đóng góp mang tính chiến lược của mặt trận ngoại giao trong việc hình thành liên minh chiến đấu Đông Dương.

Nguồn tài liệu nghiên cứu dựa trên các công trình sử học, văn kiện và chuyên khảo xuất bản chính thống:

  • Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) (Tập 6: Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương; Tập 9: Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử) do Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn.
  • Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 - 2007) (Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp biên soạn).
  • Các công trình chuyên sâu: Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong lịch sử (Dương Đình Lập), Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào giai đoạn 1954 - 2017 và Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020) (Lê Đình Chỉnh), 5 đường mòn Hồ Chí Minh (Đặng Phong), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000 (Nguyễn Đình Bin).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Bối cảnh quốc tế và tình hình Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)

Chương 1 tái hiện bức tranh toàn cảnh về quan hệ quốc tế và tình hình nội bộ Việt Nam qua hai giai đoạn chiến lược, làm tiền đề cho việc hoạch định chính sách đối ngoại.

Giai đoạn 1954 – 1964:

  • Bối cảnh quốc tế: Chiến tranh Lạnh diễn ra gay gắt giữa hai khối tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa với sự đối đầu giữa NATO (1949) và Hiệp ước Vacsava (5/1955). Mĩ thực hiện chiến lược toàn cầu: trong 8 năm (1953 - 1960), Mĩ chi viện trợ bình quân 5 tỷ USD/năm (viện trợ quân sự gần 3 tỷ USD/năm; ưu tiên Tây Âu 54%, Đông Nam Á và Viễn Đông 24,2%, Trung Cận Đông 14,9%), thiết lập hơn 2.200 căn cứ quân sự, 7 hạm đội và mạng lưới cố vấn tại 45 nước. Tháng 9/1954, Mĩ thành lập Khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO). Trong phe XHCN xuất hiện mâu thuẫn Xô - Trung (bắt đầu bộc lộ từ Đại hội XX ĐCS Liên Xô năm 1956 và xung đột biên giới Trung - Ấn 1959). Phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ tại Algeria, Cuba (1959) và phong trào độc lập ở châu Phi (1960).
  • Tình hình Việt Nam: Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59 và tiến hành tố cộng, diệt cộng tàn bạo (Nam Bộ chỉ còn khoảng 5.000/60.000 đảng viên; Liên khu V mất 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên; Quảng Trị chỉ còn 176/8.400 đảng viên). Nghị quyết Trung ương 15 (1/1959) mở đường cho bạo lực cách mạng, dẫn tới phong trào Đồng khởi (1960) và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960). Quân dân ta lần lượt đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ qua các chiến thắng Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài (1965).
  • Đường lối đối ngoại: Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Geneva 1954; kiên trì giữ lập trường trung lập, tăng cường đoàn kết trong xử lý mâu thuẫn Xô - Trung; mở rộng bang giao với các nước Á, Phi, Mĩ Latinh (đặt quan hệ với Cuba năm 1960; Guinée, Mali, Algérie, CHDC Congo, Ghana, Ai Cập năm 1961; tổ chức Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam tại Hà Nội tháng 11/1964 với 169 đại biểu từ 50 nước và 12 tổ chức).

Giai đoạn 1965 – 1975:

  • Bối cảnh quốc tế & trong nước: Mĩ triển khai "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam (cuối 1964 có 26.000 lính Mĩ, cuối 1965 tăng vọt lên 180.000 lính Mĩ và 20.000 lính đồng minh, chưa kể 70.000 lính hải quân, không quân tại Guam, Thái Lan, Philippines, Hạm đội 7). Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 buộc Mĩ phải phi Mĩ hóa chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Sau thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và cuộc tập kích đường không Linebacker II (12/1972), Hiệp định Paris được ký kết (1/1973), tạo tiền đề cho Đại thắng mùa Xuân 1975.
  • Đường lối đối ngoại: Thực hiện nghị quyết Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964); tranh thủ tối đa viện trợ kinh tế - quân sự không hoàn lại và vốn vay ưu đãi của các nước XHCN nhưng luôn giữ vững tính độc lập, tự chủ (tự đảm nhiệm tuyến vận tải chiến lược vào miền Nam; coi Cách mạng Văn hóa là công việc nội bộ của Trung Quốc); tích cực xây dựng Mặt trận thống nhất nhân dân ba nước Đông Dương.

Chương 2. Hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nước Lào trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)

Chương 2 phân tích vị trí địa chiến lược sống còn của Lào đối với an ninh Đông Dương và làm rõ các hoạt động đối ngoại, hợp tác toàn diện giữa hai nước:

Giai đoạn 1954 – 1964:

  • Đảng Lao động Việt Nam thống nhất với Đảng Nhân dân Lào cử cán bộ, chuyên gia quân sự (Đoàn 959, 463, 565) và Quân tình nguyện (Đoàn 335, 766, 866, 763, 986) sang giúp Lào củng cố hai tỉnh tập kết Sầm Nưa và Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ từ 2 tiểu đoàn lên 10 tiểu đoàn (1961).
  • Chiến dịch Nậm Thà (4 - 5/1962): Địch tập trung 5.600 quân, 6 pháo 105mm, 7 sơn pháo 75mm hòng chiếm Thượng Lào và uy hiếp Tây Bắc Việt Nam. Bộ Tư lệnh chiến dịch phối hợp Việt - Lào được thành lập (Thiếu tướng Bằng Giang làm Tư lệnh phía Việt Nam; đồng chí Xixavat Kẹo Bunphan chỉ đạo phía Lào) với tổng quân số tham gia khoảng 7.000 người. Kết quả: Tiêu diệt 1.800 tên địch (xóa sổ GM11, đánh thiệt hại nặng GM15 và GM18), thu 400 súng và gần 600 tấn đạn, giải phóng 8.000 km² với hơn 7 vạn dân. Chiến thắng này buộc Mĩ và phái hữu Viêng Chăn ký Hiệp định Cánh Đồng Chum (12/6/1962) và Hiệp định Geneva về Lào (23/7/1962), thành lập Chính phủ Liên hiệp ba phái.

Giai đoạn 1965 – 1975:

  • Chính trị - Ngoại giao: Việt Nam ủng hộ Tuyên bố 5 điểm của Neo Lào Hắc Xạt (3/1970), phối hợp tổ chức Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4/1970); hỗ trợ Lào đón các phái đoàn quốc tế (Đoàn Quốc hội Thụy Điển, Đoàn kinh tế Cuba tháng 1/1974, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cuba, Bulgaria tháng 2/1974).
  • Hợp tác kinh tế - văn hóa: Việt Nam cử chuyên gia hỗ trợ Lào xây dựng các ngành lâm nghiệp, công nghiệp nhẹ, thủ công nghiệp, địa chất (2/1972), giao thông vận tải (4/1972) và thủy lợi (5/1972).
  • Lực lượng chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào:
Giai đoạn Quân số cao nhất Cơ cấu lực lượng chính
1955 - 1957 849 người 318 chuyên gia quân sự; 531 cán bộ dân, chính
1959 - 1960 Gần 100 người Ban công tác Lào và Đoàn 959
1961 - 1964 14.599 người Chuyên gia quân sự, chính trị và lực lượng phối thuộc
1966 - 1968 26.823 người 1.045 chuyên gia quân sự; 503 chuyên gia chính trị; 2.455 chuyên gia kinh tế - văn hóa; 820 lao động; 22.000 quân tình nguyện
1969 - 1972 51.135 người 1.300 chuyên gia quân sự; 614 chuyên gia chính trị; 3.355 chuyên gia kinh tế - văn hóa; 8.920 lao động; 36.946 quân tình nguyện
1973 - 1974 42.894 người 1.100 chuyên gia quân sự; 641 chuyên gia chính trị; 1.285 chuyên gia kinh tế - văn hóa; 17.868 lao động; 22.000 quân tình nguyện
1975 ~30.000 người Lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia hỗ trợ tổng khởi nghĩa
  • Phối hợp tác chiến bảo vệ hành lang chiến lược:
    • Chiến dịch Mường Sui (6/1969): Tiêu diệt 597 tên địch, giải phóng hơn 4.000 dân, nối liền căn cứ Sầm Nưa với Bắc Lào.
    • Phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (10/1969 - 4/1970) đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt.
    • Chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào (1971): Phía Việt Nam huy động Binh đoàn 70 (gồm các Sư đoàn 304, 308, 320), các Sư đoàn 2, 324, cùng 4 tiểu đoàn xe tăng/thiết giáp (177, 287, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn phòng không (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219) và Đoàn 559. Phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào, liên quân đã đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang Tây Trường Sơn.
    • Các thắng lợi liên tiếp tại Cánh Đồng Chum - Mường Sui (1971 - 1972) và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1972) buộc đối phương ký Hiệp định Viêng Chăn (21/2/1973), tạo điều kiện tiến tới thành lập nước CHDCND Lào (2/12/1975).
  • Vận chuyển vũ khí tuyến đường biển chi viện miền Nam: Sau sự kiện Vũng Rô, phương thức vận chuyển "lừa miếng" bằng hàng hải thiên văn được triển khai thành công:
Con tàu Ngày xuất phát Ngày cập bến Khối lượng vũ khí Địa điểm tiếp nhận an toàn
Tàu 42 (chuyến 1) 15/10/1965 10/1965 61,6 tấn Rạch Kiến (Bạc Liêu)
Tàu 69 10/11/1965 24/11/1965 62,0 tấn Vàm Lũng (Cà Mau)
Tàu 68 12/1965 20/02/1966 64,0 tấn Bạc Liêu (hành trình 2 tháng 5 ngày)
Tàu 100 24/12/1965 13/01/1966 61,4 tấn Bạc Liêu
Tàu 42 (chuyến 2) 15/03/1966 19/04/1966 61,2 tấn Bạc Liêu

Chương 3. Hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nước Campuchia trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)

Chương 3 trình bày tiến trình ngoại giao khôn khéo của VNDCCH đối với Vương quốc Campuchia:

  • Giai đoạn 1954 – 1965: Tháng 1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia. Tháng 1/1956, nâng Cơ quan đại diện thương mại tại Phnom Penh lên Cơ quan đại diện ngoại giao. Đầu tháng 3/1965, VNDCCH cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị nhân dân các dân tộc Đông Dương tại Phnom Penh do Quốc trưởng Norodom Sihanouk triệu tập.
  • Giai đoạn 1965 – 1975: Đáp ứng lời kêu gọi của Sihanouk (9/5/1967), Mặt trận Dân tộc Giải phóng (31/5/1967) và Chính phủ VNDCCH (8/6/1967) ra tuyên bố chính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ Campuchia trong đường biên giới hiện tại. Ngày 20/6/1967, cơ quan đại diện VNDCCH tại Phnom Penh được nâng cấp thành Đại sứ quán; ngày 22/6/1967 thành lập Cơ quan đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại Phnom Penh.
  • Hợp tác hậu cần và liên minh quân sự: Tranh thủ sự đồng thuận của Campuchia để tiếp nhận hàng trăm ngàn tấn nhu yếu phẩm, khí tài từ các nước XHCN qua cảng Sihanoukville phục vụ chiến trường miền Nam (1962 - 1975). Sau cuộc đảo chính của Lon Nol (18/3/1970), liên minh Việt Nam - Campuchia được củng cố thông qua các hoạt động phối hợp tác chiến trong Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (1970) và đánh bại cuộc hành quân Chenla II (1971), góp phần giải phóng Campuchia (17/4/1975) và tạo thế giải phóng miền Nam Việt Nam (30/4/1975).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm rõ các kết quả và đóng góp nổi bật sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện các sự kiện ngoại giao kết hợp tác chiến quân sự: Cung cấp các số liệu lịch sử cụ thể về quy mô điều động lực lượng chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (đạt đỉnh 51.135 người giai đoạn 1969 - 1972) và các chiến dịch hiệp đồng then chốt (Nậm Thà diệt 1.800 địch, Mường Sui diệt 597 địch, giải phóng hàng vạn dân; đánh bại Lam Sơn 719, Chenla II).
  • Làm sáng tỏ phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ: Tác giả chứng minh VNDCCH đã xử lý linh hoạt thế cân bằng chiến lược giữa Liên Xô và Trung Quốc, vừa tranh thủ được nguồn viện trợ quý báu, vừa giữ vững quyền tự chủ chiến lược trên chiến trường.
  • Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn:
    1. Bài học về giữ vững nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia láng giềng.
    2. Bài học về kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự và chính trị ("vừa đánh vừa đàm").
    3. Bài học về xây dựng mặt trận đoàn kết khu vực và quốc tế, tăng cường liên minh chiến lược Đông Dương.
    4. Vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại "thêm bạn, bớt thù", đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn dữ liệu của khóa luận chủ yếu kế thừa từ các công trình nghiên cứu thứ cấp, biên niên sử và chuyên khảo đã xuất bản trong nước; chưa có điều kiện tiếp cận trực tiếp các tài liệu lưu trữ sơ cấp (hồ sơ ngoại giao mật, điện tín lưu trữ quốc tế) từ phía Lào, Campuchia hoặc các cơ quan lưu trữ nước ngoài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh dựa trên các nguồn tư liệu giải mật từ nhiều phía (Mĩ, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc); phân tích chuyên sâu hơn tác động đa chiều của các luồng hàng viện trợ vận chuyển qua cảng Sihanoukville và tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ đối với cục diện chiến trường Đông Dương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Ngoại giao học và Lịch sử Quân sự.
  • Nội dung trọng tâm cần tham khảo: Hệ thống dữ liệu định lượng chi tiết về quy mô lực lượng tình nguyện/chuyên gia Việt Nam sang công tác tại Lào qua từng mốc thời gian; tư liệu về các chiến dịch phối hợp quân sự - ngoại giao Đông Dương (Nậm Thà 1962, Đường 9 - Nam Lào 1971); các văn kiện và tuyên bố ngoại giao khẳng định chủ quyền biên giới giữa Việt Nam, Lào và Campuchia.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong chiến dịch Nậm Thà (4 - 5/1962), liên quân Việt - Lào được tổ chức chỉ huy như thế nào và đạt kết quả ra sao?
Bộ Tư lệnh chiến dịch được thành lập ngày 15/4/1962 gồm Thiếu tướng Bằng Giang (Tư lệnh phía Việt Nam) và đồng chí Xixavat Kẹo Bunphan (Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Pathét Lào chỉ đạo). Lực lượng tham chiến khoảng 7.000 quân. Kết quả: Tiêu diệt 1.800 tên địch (GM11 bị xóa sổ, GM15 và GM18 bị thiệt hại nặng), thu 400 súng và gần 600 tấn đạn, giải phóng 8.000 km² với hơn 7 vạn dân, dẫn tới việc ký kết Hiệp định Geneva về Lào (23/7/1962).

2. Giai đoạn 1969 - 1972 ghi nhận số lượng lực lượng Việt Nam sang giúp cách mạng Lào ở mức cao nhất là bao nhiêu?
Thời điểm cao nhất trong giai đoạn 1969 - 1972, tổng quân số lực lượng Việt Nam trên đất Lào đạt 51.135 người, bao gồm: 1.300 chuyên gia quân sự, 614 chuyên gia chính trị, 3.355 chuyên gia kinh tế - văn hóa, 8.920 công nhân/lao động giản đơn và 36.946 quân tình nguyện cùng bộ đội chủ lực.

3. Sau sự kiện Vũng Rô, phương thức vận chuyển vũ khí đường biển chi viện miền Nam được thực hiện thế nào?
Cơ quan tham mưu áp dụng phương pháp hàng hải thiên văn ("lừa miếng"), cho tàu đi vòng qua hải phận quốc tế, áp sát bờ biển Trung Quốc, Philippines, Indonesia, vịnh Thái Lan rồi bất ngờ thâm nhập bến bãi ban đêm. Tiêu biểu là các chuyến tàu số 42 (chở 61,6 tấn và 61,2 tấn), tàu 69 (62 tấn), tàu 68 (64 tấn) và tàu 100 (61,4 tấn) cập bến an toàn tại Bạc Liêu và Cà Mau trong giai đoạn 1965 - 1966.

4. Chính phủ VNDCCH và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã có động thái ngoại giao cụ thể nào đối với vấn đề biên giới Campuchia năm 1967?
Ngày 31/5/1967 (Mặt trận Dân tộc Giải phóng) và ngày 8/6/1967 (Chính phủ VNDCCH) đã chính thức ra tuyên bố tôn trọng nền độc lập, chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên giới hiện tại. Sau đó, ngày 20/6/1967, cơ quan đại diện thường trực VNDCCH tại Phnom Penh chính thức được nâng cấp thành Đại sứ quán.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Quỳnh Mai đã tái hiện có hệ thống các hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Lào và Campuchia trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975). Công trình làm nổi bật sự gắn kết hữu cơ giữa mặt trận ngoại giao với đấu tranh quân sự và chính trị, khẳng định vai trò quyết định của liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương trong việc đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ. Hệ thống dữ liệu sử liệu và số liệu xác thực trong khóa luận mang lại giá trị học thuật thiết thực, cung cấp các bài học kinh nghiệm sâu sắc cho việc hoạch định chính sách đối ngoại và củng cố tình hữu nghị khu vực trong giai đoạn hiện nay.