mở đầu Chiến dịch Biên Giới. Theo tướng Trần Canh thì đánh Đông Khê làm điểm đột phá là thích hợp. Đánh Đông Khê để kéo viện binh địch lên là chiến thuật “đánh điểm diệt viện” mà Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thường dùng trong chiến tranh chống Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. Đánh Đông Khê sẽ có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch là tiền đề để giải phóng đất đai.
Ý kiến này hoàn toàn phù hợp với phương hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trùng khớp với ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Việt Nam giành thắng lợi trong Chiến dịch Biên Giới mở ra một thời kì mới trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng này đã minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như là ý kiến của các cố vấn Trung Quốc. Các cố vấn Trung Quốc luôn sát cánh cùng với quân dân Việt Nam, tham gia tích cực vào công tác xây dựng lực lượng, công tác hậu cần, xây dựng kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường cho đến công tác huấn luyện kĩ thuật chiến thuật.
Ngoài đoàn cố vấn quân sự, Trung Quốc còn trợ giúp Việt Nam nhiều đoàn cố vấn về kinh tế, tài chính, chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất. Bên cạnh các cố vấn Trung Quốc sang giúp Việt Nam, vào tháng 6 - 1950, Việt Nam đã cử 3.100 người sang học ở Trung Quốc, với 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học đào tạo, chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh 12 chủng như công binh, pháo binh [28; 451]. Ba trung đoàn Việt Nam khi sang Trung Quốc nhận vũ khí vào năm 1950, đã được Trung Quốc huấn luyện quân sự. Trung đoàn 45 là trung đoàn pháo binh hạng nặng đầu tiên và trung đoàn pháo cao xạ 367 của Việt Nam cũng do Trung Quốc giúp huấn luyện.
Trên phương diện giáo dục, Trung Quốc đã giúp Việt Nam xây dựng khu học xá Quế Lâm - nơi đào tạo nhiều nhân vật tài năng như thiếu tướng Hồ Sĩ Liêm, tiến sĩ Nguyễn Mộng Sinh, tiến sĩ Nguyễn Đỗ Bảo v.v… Sự giúp đỡ về quân sự, vũ khí và hậu cần Tháng 3 - 1950, trong khi làm việc với Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông đã khẳng định “Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc”[31; 43], trong hai năm 1951 và 1952, Trung Quốc đã giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng một trung đoàn lựu đạn pháo 105 ly [45]. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã trang bị cho Việt Nam 3.600 viên đạn pháo 105 ly (số đạn pháo này nằm trong 24 khẩu pháo mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam năm 1953), một tiểu đoàn DKZ 75 ly và một tiểu đoàn hỏa tiễn 6 nòng, hai tiểu đoàn này đã tham gia trong đợt tiến công cuối cùng trong chiến dịch [31; 44]. Tiếp đó, Trung Quốc còn đưa thêm 7.400 viên đạn 105 ly, nhưng số đạn này đã không được sử dụng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vì vận chuyển khó khăn nên không đến kịp [31; 44]. Hơn thế, Trung Quốc đồng ý để Việt Nam đưa một số đơn vị sang Trung Quốc để nhận vũ khí và tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam.
Được sự cho phép từ Trung Quốc,“trong năm 1950, 2 trung đoàn của Đại đoàn 308 đã theo đường Hà Giang qua Mông Tự nhận vũ khí. Tiếp đó, trung đoàn 209 theo đường Cao Bằng qua Hoa Đông thuộc tỉnh Quảng Tây thay đổi trang bị” [45], hai trung đoàn khác của Việt Nam phải ở lại chiến trường Cao Bằng để đánh địch cũng nhận được vũ khí do Trung Quốc trực tiếp chuyển sang. Để đảm bảo cho công tác hậu cần, ngày 6 - 8 - 1950, Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã thành lập văn phòng ở Nam Ninh. Vùng Quảng Tây (Trung Quốc) trở thành nơi quá cảnh hàng viện trợ của các nước Xã hội Chủ nghĩa khác cho Việt Nam, tại đây Trung Quốc cho mở trường đào tạo cán bộ, nhân viên kĩ thuật, quân sự và chữa trị bệnh cho thương binh Việt Nam.
Trong 13 Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chuyển cho Việt Nam 1. Sự giúp đỡ về kinh tế Với mục đích giúp Việt Nam thoát khỏi khó khăn do bị bao vây kinh tế, Trung Quốc đã kí kết hàng loạt các Hiệp định kinh tế với Việt Nam. “Hiệp định thương mại (4 - 1951), Hiệp định về mậu dịch, Hiệp định về tiền tệ, hợp đồng xuất khẩu (5 - 1951), Hiệp định trao đổi hàng hóa (5 - 1952)” [7; 66]. Theo thống kê tổng trị giá hàng viện trợ kinh tế mà Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam trong hai năm 1951, 1952 là 23,405 triệu đồng [7; 66].
Theo số liệu thống kê của Việt Nam, từ năm 1950 đến năm 1954 Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam “116.000 súng các loại, 420 khẩu pháo, đạn dược đồng bộ và khí tài công binh, thông tin”[33; 37]. Theo thống kê của Trung Quốc, trong khoảng thời gian này, Trung Quốc đã chi viện cho Việt Nam “155.000 khẩu súng các loại, 57.000 quả đạn pháo, hơn 840.000 quả lựu đạn, 1.000 bộ quân phục, 14.000 tấn lương thực và thực phẩm phụ, hơn 26.000 tấn dầu và một lượng lớn thuốc men và vật tư quân dụng khác”[31; 46]. Mặc dù có sự chênh lệch về số liệu thống kê viện trợ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng trong bối cảnh Việt Nam khó khăn, viện trợ của Trung Quốc dành cho Việt Nam là vô cùng to lớn và ý nghĩa. Chính sự giúp đỡ của Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa đã tăng cường sức mạnh cho quân dân Việt Nam.
Giúp Việt Nam giành lấy thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc Pháp chấp nhận kí Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh không chỉ ở Việt Nam mà cả ở Lào và Campuchia. 14 Tiểu kết chƣơng 1 Việt Nam, Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, có mối quan hệ lâu đời về nhiều mặt. Mối quan hệ này được quy định bởi sự gần gũi về địa lí, lịch sử, văn hóa và chế độ chính trị. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Việt Nam và Trung Quốc đã tích cực giúp đỡ lẫn nhau.
Mặc dù, đang phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng Việt Nam vẫn giúp đỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại bọn phản động Quốc dân Đảng. Sự giúp đỡ của Việt Nam đã được Trung Quốc đánh giá cao: “Trong lúc Việt Nam vừa nghèo, vừa phải gian khổ kháng chiến, lẽ ra phải đượcTrung Quốc giúp đỡ, thế mà các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ Trung Quốc”[6; 28]. Khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, thì Việt Nam vẫn đang phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp lần 2. Ngay sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Việt Nam và Trung Quốc đã nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao.
Trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn: chính quyền còn non trẻ, chưa có nước nào công nhận, cơ sở vật chất gần như bị tàn phá nặng nề, bị phong tỏa bốn bề, thì sự kiện Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là điều vô cùng ý nghĩa. Nếu như trước năm 1950, Việt Nam phải chiến đấu với Pháp trong thế cô độc, bị kẻ thù bao vây 4 mặt, bước sang năm 1950 quan hệ Việt - Trung được thiết lập, Chiến dịch Biên Giới giành được thắng lợi thì cách mạng Việt Nam đã mở thông với quốc tế trên nhiều hướng. Trung Quốc trở thành hậu phương lớn mạnh của Việt Nam, qua đó nối với Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu. Từ đây, cách mạng Việt Nam nhận được sự ủng hộ cả về tinh thần lẫn vật chất từ các nước Xã hội Chủ nghĩa, trong đó nhiều và lớn nhất là từ Trung Quốc.
Trung Quốc xem việc viện trợ, giúp đỡ Việt Nam như là một việc cần và phải làm. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã từng nói: Hồ Chí Minh và nhiều người Việt Nam đã từng tham gia và giúp đỡ cho cuộc đấu tranh cách mạng của Trung Quốc, có người còn đổ máu hy sinh. Bây giờ các đồng chí sang giúp đỡ cuộc đấu tranh chống Pháp của họ là hoàn toàn nên. 15 Vậy, tại sao Trung Quốc lại viện trợ cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, đặc biệt là Đế quốc Mĩ? Có nhiều cơ sở khiến Trung Quốc giúp đỡ, viện trợ cho cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ của nhân dân Việt Nam: thứ nhất: quan hệ lịch sử - văn hóa lâu đời giữa hai nước Việt - Trung, thứ hai: tình hữu nghị giữa những đồng chí Đảng Cộng sản Việt Nam và những đồng chí Đảng Cộng sản Trung Quốc, thứ ba: Việt Nam - Trung Quốc đều là thành viên của các nước Xã hội Chủ nghĩa, theo sự phân công nhiệm vụ giữa Liên Xô và Trung Quốc, Trung Quốc có nhiệm vụ giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, thứ tư: Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam kháng chiến chống Mĩ là vì lợi ích và an ninh của chính Trung Quốc, nhất là vùng biên giới phía Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam.
16 CHƢƠNG 2 VIỆN TRỢ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1964 2.1 Bối cảnh lịch sử 2.1 Bối cảnh Quốc tế Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) kết thúc, trật tự thế giới mới hình thành - trật tự hai cực Yalta, với một cực là Liên Xô đi theo chế độ Xã hội Chủ nghĩa và cực còn lại là Mĩ với chế độ Tư bản Chủ nghĩa. Mĩ và Liên Xô tăng cường chạy đua vũ trang, tranh giành ảnh hưởng với nhau, ráo riết thành lập Liên minh Kinh tế, Quân sự. Mĩ đã đề ra kế hoạch Phục hưng châu Âu (7 - 1947) nhằm tái thiết Tây Âu, đẩy lùi Chủ nghĩa Cộng sản, tạo cho Mĩ vành đai an toàn. Cùng với kế hoạch Marshall, Mĩ thành lập Liên minh Quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm bảo đảm an ninh cho các nước thành viên và ngăn chặn làn sóng đỏ.
Để đối trọng với Mĩ, Liên Xô cùng các nước Xã hội Chủ nghĩa thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV). Về mặt quân sự, Liên Xô thành lập Liên minh Quân sự (VACSAVA). Trong suốt thời kì này, mặc dù không xảy ra chiến tranh toàn cục, nhưng chiến tranh cục bộ vẫn diễn ra ở nhiều nơi thể hiện xung đột, mâu thuẫn giữa hai cực Xô - Mĩ.