mở đầu là bi kịch, kết thúc là hài kịch” [133]. Các ý kiến trên đều nhấn mạnh tiềm năng của thể tài này trong việc tái tạo tính cách, tâm lí con người vốn mờ nhạt trong sử học. Nhà văn, viện sĩ André Maurois (1885-1967), Viện Hàn lâm Pháp có viết trong cuốn Lịch sử nước Pháp (1940): “May nhờ có Alexandre Dumas, cả thế giới bao gồm cả người Pháp mới hiểu về lịch sử nước Pháp, cho dù lịch sử ấy chưa hẳn là chính xác tường tận nhưng ít ra cũng không phải là vô căn cứ” (Dẫn theo Hiền Thương, Khi bạn chọn đọc ngôn tình để hiểu thêm về lịch sử, http://tuoitre. Theo đó, lịch sử được xem là yếu tố tồn tại khách quan, là cơ sở để nhà văn sáng tạo.
Cùng quan điểm trên, tác giả Milan Kundera trong công trình Nghệ thuật tiểu thuyết (1998) đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhà văn và nhà sử học: “Nhà sử học kể lại các sự kiện đã xảy ra, còn nhà tiểu thuyết nắm bắt một khả năng của cuộc sống, khả năng của con người và thế giới. Nhà TTLS ghi nhận những kinh nghiệm nhân loại mà sử gia không quan tâm hoặc không thấy giá trị. Chính điều đó làm ngã bổ những định kiến chắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh hằng của thế giới vững tin đã định hình yên chí, nhất thành bất biến và thám hiểm những mặt khác của vạn vật” [80; tr. Ông nhấn mạnh quyền năng của người sáng tác: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải nhà tiên tri: anh ta là người thám hiểm cuộc sống” [80; tr.
Như vậy kiến giải của Milan Kundera thống nhất với các quan điểm trên khi nhấn mạnh hư cấu là một thuộc tính tất yếu của TTLS. Trong công trình Mỹ học của F. Heghen (1999, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội) có nêu ý kiến của nhà phê bình Biêlinxki: “Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn về cái đã qua để chúng ta giải thích hiện tại và chỉ ra tương lai cho chúng ta” [44; tr. Như vậy, lịch sử là căn nguyên nhận thức khám phá hiện thực.
Hay như chính trị gia kiêm nhà văn của nước Anh là George Otto Trevelyan (1838-1928) trong cuốn Lịch sử xã hội Anh (1922) cũng bày tỏ sự hoài nghi về quá khứ: “Lịch sử không có giá trị khoa học thực sự, mục đích duy nhất của lịch sử là giáo dục con người” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 135]. Cả hai ý kiến này lại thiên về việc nhấn mạnh vai trò nhận thức, giải mã lịch sử và chức năng giáo huấn của TTLS. Các quan niệm đó cho thấy lịch sử và tiểu thuyết có nhiều điểm giao thoa. Cả hai đều tồn tại như là truyện kể, đều là ý thức xã hội.
Cả hai đều dùng tư liệu và tưởng tượng để tái hiện quá khứ và bù đắp vào chỗ đứt gẫy, chỗ trống vắng trong sử học. Song thực tế cho thấy, không có căn nguyên hiện thực từ quá khứ, cũng không thể có hư cấu và tưởng tượng. luan an 13 Còn Fredric Fukuyama lại thể hiện cảm quan hoài nghi lịch sử với tuyên bố: “Lịch sử đã cáo chung” (Sự chấm dứt của lịch sử, 1989) [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133]. Ý kiến này đã từng tạo ra “cơn địa chấn” gay gắt trong giới nghiên cứu về bản chất lịch sử.
Tuy nhiên, với sự ra đời của các trường phái lí thuyết như: chủ nghĩa tân lịch sử, chủ nghĩa hậu thực dân, nữ quyền luận và nhiều hệ hình lý thuyết hiện đại khác thì con người phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên là lịch sử đang được nhìn nhận một cách cởi mở hơn. Thực chất lịch sử không phải đã “cáo chung” mà được đặt ở nhiều góc nhìn, nhiều hướng đối thoại và bổ sung nhau. Tiểu tự sự bổ sung cho đại tự sự và tiểu lịch sử sẽ bồi đắp đại lịch sử. Khi Lí thuyết Hậu thực dân ra đời thì một số quốc gia trên thế giới nhìn nhận lịch sử càng cởi mở.
Như vậy, điều thú vị là khi tồn tại những quan điểm chưa thống nhất về lịch sử cũng là cơ hội mở rộng đường biên cho sáng tạo của nhà tiểu thuyết và cách tiếp nhận mới ở người đọc. Bên cạnh những quan điểm của các nhà nghiên cứu, bản thân các nhà văn lớn trên thế giới cũng bày tỏ những kiến giải về TTLS qua thực tiễn sáng tác, góp phần làm đầy đặn thêm lý thuyết về thể tài này. Tiêu biểu là ý kiến của nhà TTLS vĩ đại người Pháp Alexandre Dumas (cha) thì lịch sử giống như một cái đinh để mọi người có thể tự do treo bức tranh của mình vào đó. Theo ông, lịch sử là điểm tựa để người nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo.
Trái lại, trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012) của Hải Thanh trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã trích dẫn ý kiến của nhà văn lớn nước Nga A. Tônxtôi: “TTLS phải chính xác như một nghiên cứu lịch sử” [154]. Hay trong bài Lịch sử và tiểu thuyết lịch sử (2012) của tác giả Trần Đình Sử trên Báo điện tử Quân đội nhân dân cũng nêu quan điểm của nhà văn Nhật Bản Kikuchi Kan (1888 - 1948): “Lịch sử trong tiểu thuyết phải là các sự kiện và nhân vật nổi tiếng đã được ghi trong sách sử” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133]. Trong công trình Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2012) của Phan Mạnh Hùng cũng trích dẫn những kiến giải của nhà văn Goncourt (Pháp): “Lịch sử là tiểu thuyết đã thành hiện thực, còn tiểu thuyết là lịch sử có khả năng thành hiện thực.
TTLS kết hợp hai yếu tố đối lập, nhà văn tùy theo cảm hứng mà kéo mạnh về cực này hay cực kia. Người viết TTLS là một thầy lang bốc hai vị thuốc kỵ nhau, nhưng liều lượng phải tính thế nào để chúng bổ sung cho nhau, để thuốc có hiệu quả - tác phẩm phải hay: vừa có vị tiểu thuyết vừa có vị lịch sử” [54; tr. Như vậy, tác giả nhấn mạnh tới tài năng của người viết đồng hành trong việc xử lí chất liệu lịch sử và kĩ thuật tiểu thuyết. Nhà TTLS nổi tiếng Hella S.
Haasse (Hà Lan) khẳng định: “Mặc dầu những cuốn tiểu thuyết của tôi là TTLS nhưng chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái luan an 14 hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu. Trong văn học, đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải là một cứu cánh… Viết TTLS chẳng khác nào một trò chơi ú tim trong bóng tối và nếu trong trò chơi này ta chộp được một bàn tay hay một khuôn mặt, thì đã là may mắn lắm rồi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh, 106; tr. Qua đó cho thấy phần lớn các nhà văn kiên quyết phản đối sự sao chép lại những gì xảy ra trong quá khứ và nhấn mạnh vai trò của hư cấu sáng tạo đối với người sáng tác khi đứng trước sự phức tạp của sử liệu. Qua một số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu trên cho thấy các góc nhìn phong phú khác nhau tạo tiền đề để chúng ta khám phá TTLS một cách toàn diện và sâu sắc hơn trong trào lưu vận động và phát triển của văn học thế giới và trong nước.
Tuy nhiên, thực tiễn sáng tác ở các giai đoạn sau đã thể hiện khả năng tiềm tàng của thể tài này trong việc nhìn nhận và phản ánh lịch sử. Do đó chỉ có những cách diễn giải về lịch sử khác nhau còn bản thân lịch sử là những biến cố xã hội có thời gian và không gian xác định chứ không phải là kết quả diễn ngôn chủ quan của người cầm bút. Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam Nền văn học Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự phát triển của TTLS trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là những thập niên cuối của thế kỉ XX cho đến nay. Tuy nhiên thực tiễn hoạt động nghiên cứu phê bình về TTLS còn khá hạn chế.
Từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1930 tình nghiên cứu TTLS mới bắt đầu nhen nhóm. Đương thời các học giả nổi tiếng như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan đã theo sát sự vận động của TTLS và trình bày những quan niệm về TTLS. Giữa nhà văn và nhà lí luận phê bình đã có những “đụng độ” quan niệm về thể loại nhưng chưa có lời giải đáp toàn diện và triệt để. Để phác họa bức tranh nghiên cứu TTLS ở Việt Nam, chúng tôi khảo sát qua 3 giai đoạn sau đây dựa trên một số bài viết và công trình tiêu biểu.
Giai đoạn 1930 - 1945 Trong công trình Nhà văn hiện đại (1942), tác giả Vũ Ngọc Phan đã trình bày một số nhận định về thể tài lịch sử qua thực tiễn nghiên cứu những gương mặt tiêu biểu đương thời như: Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai. Từ những thành tựu cụ thể, ông đã bày tỏ những nhận xét có ý nghĩa thiết thực trong việc bổ khuyết, đối sánh về sáng tác của các nhà văn để độc giả có cái nhìn toàn diện hơn. Khi nhận xét về sáng tác của Phan Trần Chúc, ông viết: “Một lối văn mạnh và cứng, nhưng không bao giờ tránh được những cái ngây ngô, gần như dịch không thoát một câu tiếng Pháp. làm cho người ta phải lấy làm lạ rằng ở miệng cổ nhân mà sao lắm khi lại có những lời quá mới, ngây ngô như thế” [126; tr.
Về tác phẩm Chúa Trịnh Khải của Nguyễn Triệu Luật, Vũ Ngọc Phan cũng phê bình thẳng thắn: luan an 15 “Nếu ông biết loại bớt những cái rườm rà đi, như những lời bàn, những lời so sánh vô lý, những sự giảng giải không đâu thì những thiên lịch sử kí sự của ông sẽ được nhẹ nhàng biết bao!” [126; tr. Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh: “Khi viết một quyển lịch sử, nhà chép sử không lưu tâm đến những việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội; nhưng khi viết những bài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh hưởng gì đến dân chúng, chỉ có cái thi vị riêng của nó thôi. Không những thế, khi viết một quyển lịch sử ký sự, nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc tư lắm lối ấy cũng gần như lối chép dã sử vậy. Còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc con con đã qua, rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt cho mọi việc đừng trái với thời đại, còn không cần phải toàn sự thật.