Chương 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN NHÂN LUC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUẦN SỰ CỦA QUẦN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Tổng quan kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến Chính sách phát triển nhân lực KH&CN trong lĩnh vực KHLSOS của OPNDVN sẽ giúp NCS nhận thức day đủ, sâu sắc giá trị của các công trình khoa học đối với quá trình thực hiện đề tài luận án của NCS. Đồng thời, giúp NCS xác định và giới hạn rõ vấn đề lựa chọn cần tập trung nghiên cứu, giải quyết mà các công trình trước đây chưa đặt ra, hoặc chưa có điều kiện để nghiên cứu, hoặc do đối tượng, phạm vi nghiên cứu mà chưa đề cập đến. Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; phát triển nhân lực khoa học và công nghệ; năng lực và khung năng lực; chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ * Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; phát triển nhân lực khoa học và công nghệ Các tác giả Mare Effron, Robert Gandossy trong tác pham: “Human resourses in the 21" century” (Nguồn luc trong thé ky XXI), USA, John Wiley, 2003 [114], đã tập trung trình bay những dong góp tu tưởng của các nhà lãnh dao: David Ulrich, Rosabelth Moss Kanter.về chiến lược phat trién nguồn lực con người, về khoa học quản lý và sử dụng nguồn lực con người đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất vật chất. Các tác giả cho rằng: ngày nay, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều nhận thức rõ nguồn lực con người là rất quan trọng, có tính quyết định đến sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia.
Bàn về chính sách nguồn nhân lực KH&CN cũng được Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của 18 Liên Hợp quốc (UNESCO), Liên minh Châu Âu và nhiều học giả nghiên cứu. Năm 2007, tác giả Sami Mahroum trong bài viết “Assessing human resources for science and technology: the 3D framework” (Đánh giá nguồn nhân lực KH&CN: khuôn khổ không gian 3 chiều”, Oxford University Press, Vol.7 [116], đã chỉ ra 3 yếu tố tạo nên thành công về mặt chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN của một quốc gia, đó là: Phát triển tài năng thông qua các chính sách về giáo dục - dao tao; trién khai nguồn nhân lực thé hiện năng lực sử dụng tối ưu hóa nguồn nhân lực KH&CN của quốc gia; tạo ra những tài năng về KH&CN thông qua việc thu hút nhân tài không chỉ ở trong nước mà còn cả trên thế giới, từ cấp độ sinh viên cử nhân đến các nhà khoa học. Nguyễn Thị Quỳnh Giang thuộc Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước [41], khi nghiên cứu về nhân lực KH&CN ở một số nước trên thế giới, đã cho rằng: 1. Ở Nhật Bản nhân lực KH&CN được quan niệm là những người tốt nghiệp đại học đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật, đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo.
Nhân lực KH&CN ở Nhật Bản bao gồm ba nhóm: Cán bộ nghiên cứu (nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật, nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển. Ở Thái Lan, nhân lực KH&CN được xác định là tổng số nhân lực có trình độ, hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang làm việc, hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong một tổ chức và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ. Nhân lực KH&CN ở Thái Lan gồm ba nhóm: Các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên phụ trợ.Ở Singapore, quan niệm về nhân lực KH&CN có sự mở rộng hơn, đó là không phân biệt nhân lực KH&CN là công dân của quốc gia hay người nước ngoài, chỉ cần những người này làm việc phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước, được Chính phủ Singapore chỉ trả lương thì họ là nguồn nhân lực KH&CN của Singapore. Đội ngũ nhân lực KH&CN của Singapore 19 gồm những nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật.
Chính phủ Singapore đã xác định chiến lược phát triển nguồn lực này từ thể chế, chính sách, đến các chương trình học bồng, cơ chế tài chính, chế độ lương, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực KH&CN, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực KH&CN mũi nhọn của quốc gia. Theo công trình “KH&CN Việt Nam 2003” và “Cẩm nang về do lường nguồn nhân lực KH&CN” của Tô chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học và cao dang, làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thê hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN.
Khái niệm này dường như quá rộng dé thé hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển (NCPT), hay còn gọi là R&D (research and development), dé thé hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. Theo cuốn “Cam nang FRASCATI - Hướng dẫn thống kê nghiên cứu phát triển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ” [92], nhân lực nghiên cứu phát triển bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển. Nhân lực nghiên cứu phát triển được chia thành ba nhóm: Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu khoa học (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu).
Đây là những người nghiên cứu chuyên nghiệp có trình độ cao đăng, đại học, thạc sĩ, tiên sĩ hoặc không có văn băng chính thức, 20 song họ vẫn thường xuyên làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu, nhà khoa học, trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo, phát triển tri thức, sản phẩm và quy trình mới, phương pháp và hệ thống mới. Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm nay bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào nghiên cứu phát triển băng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu khoa học nhóm một như đã nêu trên.
Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp nghiên cứu phát triển. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án nghiên cứu phát triển. Trong nhóm này có cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc nghiên cứu phát triển của các tô chức nghiên cứu phát trién. Trên cơ sở phân tích những quan niệm về nhân lực KH&CN của các tổ chức, cá nhân, trong công trình: “Di động xã hội cua nhân lực KH&CN trong bồi cảnh hội nhập quốc tế: Ly luận và thực tiền ”, (2016), Đào Thanh Trường [95] đã quan niệm: “Nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác, sử dụng và tác nghiệp, góp phan tạo ra tiễn bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội”.
Theo đó, nhân lực KH&CN sẽ bao gồm: - Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp; - Lực lượng giảng dạy được dao tạo bậc cao; - Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học. Nghiên cứu về nhân lực KH&CN, năm 2016 đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Nghiên cứu chính sách phát triên nguôn nhân lực khoa học và công 21 nghệ của Việt Nam dé tích cực chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế trong một số lĩnh vực ưu tiên”, do Trịnh Ngọc Thạch làm Chủ nhiệm [84] đã cho rằng: Hiện nay, tại Việt Nam chưa chính thức đưa ra một định nghĩa thống nhất về nhân lực KH&CN. Trong các tài liệu thống kê về nhân lực KH&CN hiện nay có sự không thống nhất. Một số nghiên cứu, bài viết trên báo/tạp chí đề cập đến nhân lực KH&CN, trong khi một số khác lại đề cập đến nhân lực research and development (R&D) hay nhân lực mang tính chất “tiềm năng”.
Vậy nên hiểu như thế nào cho thống nhất về những thuật ngữ này? Theo đó, tác giả đã đưa ra một số khái niệm về nhân lực KH&CN của các nhà khoa học, các tổ chức trong nước và trên thế giới. Đây là một trong những cơ sở quan trọng dé NCS tham khảo hoàn thành luận án của mình. Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng (2012), đã nghiên cứu, công bố công trình: “Phat triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cau CNH, HDH và hội nhập quốc tế” [67]. Các tác giả đã tập trung làm sáng tỏ những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực; giới thiệu những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới; phân tích thực trạng, những bat cập, thách thức va đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung của nước ta hiện nay.
Bản về vai trò nguồn lực trí tuệ, Nguyễn Văn Khánh, Lại Quốc Khánh, Trương Bích Hạnh, Đặng Anh Dũng, Lưu Tùng Trúc (2013), đã nghiên cứu, công bố công trình: “Xây đựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chan hưng dat nước ” [57]. Công trình đã tập trung làm rõ một số nội dung chính, bao gồm: Những vấn đề lý luận chung về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử và hiện tại; xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.