Luận án tiến sĩ quản lý khoa học và công nghệ chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của quân đội nhân dân việt nam trên cơ sở khung năng lực

Luận án tiến sĩ phân tích chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự Việt Nam dựa trên khung năng lực.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

225
8
2

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.7. Tính mới khoa học của luận án

1.8. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUÂN SỰ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; phát triển nhân lực khoa học và công nghệ; năng lực và khung năng lực; chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

2.2. Các công trình khoa học nghiên cứu về nhân lực khoa học và công nghệ; chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.3. Những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu

2.4. Tiểu kết Chương 1

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUÂN SỰ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ KHUNG NĂNG LỰC

3.1. Một số khái niệm cơ bản

3.1.1. Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ

3.1.2. Khung năng lực của nhân lực khoa học và công nghệ

3.1.3. Chính sách và chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự

3.1.4. Nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự và sự cần thiết phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trên cơ sở khung năng lực

3.2. Tiêu chí đánh giá chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trên cơ sở khung năng lực

3.3. Những yếu tố tác động đến chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam

3.4. Tiểu kết Chương 2

4. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUÂN SỰ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

4.1. Nhiệm vụ, hệ thống tổ chức và cơ chế lãnh đạo, quản lý công tác nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam

4.2. Khảo sát đánh giá thực trạng chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam

4.3. Nhận xét và một số vấn đề đặt ra đối với tiếp tục hoàn thiện và thực hiện chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở khung năng lực

4.4. Tiểu kết Chương 3

5. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUÂN SỰ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ KHUNG NĂNG LỰC

5.1. Định hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở khung năng lực

5.2. Giữ vững định hướng chính trị trong quá trình hoàn thiện và thực thi chính sách

5.3. Chính sách hoàn thiện phải phù hợp với nhiệm vụ, đặc điểm tổ chức, hoạt động của ngành khoa học lịch sử quân sự trong Quân đội

5.4. Hoàn thiện chính sách phải kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm xây dựng, phát triển lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam

5.5. Luôn bám sát thực tiễn, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả tối ưu của chính sách

5.6. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và thực hiện chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở khung năng lực

5.7. Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện tiêu chuẩn nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trên cơ sở khung năng lực

5.8. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trên cơ sở khung năng lực

5.9. Tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở khung năng lực

5.10. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể và phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng để hoàn thiện, thực thi chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự trên cơ sở khung năng lực

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam

Phát triển nhân lực khoa họccông nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự. Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác này cần có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chính sách phát triển nhân lực khoa họccông nghệ đã được xây dựng và thực hiện nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nghiên cứu, từ đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, việc phát triển nhân lực khoa họccông nghệ không chỉ dừng lại ở việc đào tạo mà còn bao gồm việc thu hút, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.1. Tầm quan trọng của phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

Phát triển nhân lực khoa họccông nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò quyết định trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng công tác nghiên cứu mà còn tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị, phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có khả năng ứng dụng công nghệ mới vào thực tiễn là rất cần thiết. Chính sách phát triển nhân lực khoa họccông nghệ cần được thiết kế một cách đồng bộ, từ khâu tuyển dụng, đào tạo đến sử dụng và đãi ngộ, nhằm thu hút và giữ chân những nhân tài trong lĩnh vực này.

II. Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong quân đội

Thực trạng phát triển nhân lực khoa họccông nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Nhiều chính sách đã được ban hành nhằm nâng cao chất lượng nhân lực khoa họccông nghệ, tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu chưa đồng đều về trình độ, một số còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết. Hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý cũng cần được cải thiện để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc khảo sát và đánh giá thực trạng chính sách phát triển nhân lực khoa họccông nghệ là cần thiết để có những điều chỉnh kịp thời, nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu trong quân đội.

2.1. Đánh giá thực trạng chính sách phát triển nhân lực

Đánh giá thực trạng chính sách phát triển nhân lực khoa họccông nghệ cho thấy rằng mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Một số chính sách chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực khoa học chất lượng cao. Hơn nữa, việc thu hút và giữ chân nhân tài trong lĩnh vực này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình, như tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu.

III. Định hướng và giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

Để phát triển nhân lực khoa họccông nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam, cần xác định rõ định hướng và giải pháp cụ thể. Việc hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực khoa họccông nghệ cần phải dựa trên khung năng lực, từ đó xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể cho từng vị trí công tác. Cần chú trọng đến việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Các giải pháp như tăng cường hợp tác quốc tế, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, cũng như cải thiện môi trường làm việc sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực khoa họccông nghệ.

3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực

Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực khoa họccông nghệ bao gồm việc cải thiện quy trình tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ. Cần xây dựng một hệ thống đánh giá năng lực rõ ràng, từ đó có những chính sách khuyến khích phù hợp. Đặc biệt, việc tạo ra môi trường làm việc sáng tạo, khuyến khích đổi mới và sáng tạo sẽ giúp thu hút và giữ chân những nhân tài trong lĩnh vực này. Hợp tác với các tổ chức quốc tế cũng là một trong những giải pháp quan trọng, giúp nâng cao trình độ và cập nhật công nghệ mới cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ quản lý khoa học và công nghệ chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học lịch sử quân sự của quân đội nhân dân việt nam trên cơ sở khung năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN NHÂN LUC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC LỊCH SỬ QUẦN SỰ CỦA QUẦN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM Tổng quan kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến Chính sách phát triển nhân lực KH&CN trong lĩnh vực KHLSOS của OPNDVN sẽ giúp NCS nhận thức day đủ, sâu sắc giá trị của các công trình khoa học đối với quá trình thực hiện đề tài luận án của NCS. Đồng thời, giúp NCS xác định và giới hạn rõ vấn đề lựa chọn cần tập trung nghiên cứu, giải quyết mà các công trình trước đây chưa đặt ra, hoặc chưa có điều kiện để nghiên cứu, hoặc do đối tượng, phạm vi nghiên cứu mà chưa đề cập đến. Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; phát triển nhân lực khoa học và công nghệ; năng lực và khung năng lực; chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ * Các công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; phát triển nhân lực khoa học và công nghệ Các tác giả Mare Effron, Robert Gandossy trong tác pham: “Human resourses in the 21" century” (Nguồn luc trong thé ky XXI), USA, John Wiley, 2003 [114], đã tập trung trình bay những dong góp tu tưởng của các nhà lãnh dao: David Ulrich, Rosabelth Moss Kanter.về chiến lược phat trién nguồn lực con người, về khoa học quản lý và sử dụng nguồn lực con người đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất vật chất. Các tác giả cho rằng: ngày nay, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều nhận thức rõ nguồn lực con người là rất quan trọng, có tính quyết định đến sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia.

Bàn về chính sách nguồn nhân lực KH&CN cũng được Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của 18 Liên Hợp quốc (UNESCO), Liên minh Châu Âu và nhiều học giả nghiên cứu. Năm 2007, tác giả Sami Mahroum trong bài viết “Assessing human resources for science and technology: the 3D framework” (Đánh giá nguồn nhân lực KH&CN: khuôn khổ không gian 3 chiều”, Oxford University Press, Vol.7 [116], đã chỉ ra 3 yếu tố tạo nên thành công về mặt chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN của một quốc gia, đó là: Phát triển tài năng thông qua các chính sách về giáo dục - dao tao; trién khai nguồn nhân lực thé hiện năng lực sử dụng tối ưu hóa nguồn nhân lực KH&CN của quốc gia; tạo ra những tài năng về KH&CN thông qua việc thu hút nhân tài không chỉ ở trong nước mà còn cả trên thế giới, từ cấp độ sinh viên cử nhân đến các nhà khoa học. Nguyễn Thị Quỳnh Giang thuộc Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước [41], khi nghiên cứu về nhân lực KH&CN ở một số nước trên thế giới, đã cho rằng: 1. Ở Nhật Bản nhân lực KH&CN được quan niệm là những người tốt nghiệp đại học đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật, đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo.

Nhân lực KH&CN ở Nhật Bản bao gồm ba nhóm: Cán bộ nghiên cứu (nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật, nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển. Ở Thái Lan, nhân lực KH&CN được xác định là tổng số nhân lực có trình độ, hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang làm việc, hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong một tổ chức và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ. Nhân lực KH&CN ở Thái Lan gồm ba nhóm: Các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên phụ trợ.Ở Singapore, quan niệm về nhân lực KH&CN có sự mở rộng hơn, đó là không phân biệt nhân lực KH&CN là công dân của quốc gia hay người nước ngoài, chỉ cần những người này làm việc phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước, được Chính phủ Singapore chỉ trả lương thì họ là nguồn nhân lực KH&CN của Singapore. Đội ngũ nhân lực KH&CN của Singapore 19 gồm những nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật.

Chính phủ Singapore đã xác định chiến lược phát triển nguồn lực này từ thể chế, chính sách, đến các chương trình học bồng, cơ chế tài chính, chế độ lương, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực KH&CN, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực KH&CN mũi nhọn của quốc gia. Theo công trình “KH&CN Việt Nam 2003” và “Cẩm nang về do lường nguồn nhân lực KH&CN” của Tô chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học và cao dang, làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đăng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thê hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN.

Khái niệm này dường như quá rộng dé thé hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia. Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển (NCPT), hay còn gọi là R&D (research and development), dé thé hiện lực lượng lao động KH&CN của mình. Theo cuốn “Cam nang FRASCATI - Hướng dẫn thống kê nghiên cứu phát triển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ” [92], nhân lực nghiên cứu phát triển bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển. Nhân lực nghiên cứu phát triển được chia thành ba nhóm: Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu khoa học (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu).

Đây là những người nghiên cứu chuyên nghiệp có trình độ cao đăng, đại học, thạc sĩ, tiên sĩ hoặc không có văn băng chính thức, 20 song họ vẫn thường xuyên làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu, nhà khoa học, trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo, phát triển tri thức, sản phẩm và quy trình mới, phương pháp và hệ thống mới. Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương. Nhóm nay bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham gia vào nghiên cứu phát triển băng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu khoa học nhóm một như đã nêu trên.

Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp nghiên cứu phát triển. Bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các dự án nghiên cứu phát triển. Trong nhóm này có cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc nghiên cứu phát triển của các tô chức nghiên cứu phát trién. Trên cơ sở phân tích những quan niệm về nhân lực KH&CN của các tổ chức, cá nhân, trong công trình: “Di động xã hội cua nhân lực KH&CN trong bồi cảnh hội nhập quốc tế: Ly luận và thực tiền ”, (2016), Đào Thanh Trường [95] đã quan niệm: “Nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác, sử dụng và tác nghiệp, góp phan tạo ra tiễn bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội”.

Theo đó, nhân lực KH&CN sẽ bao gồm: - Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp; - Lực lượng giảng dạy được dao tạo bậc cao; - Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học. Nghiên cứu về nhân lực KH&CN, năm 2016 đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Nghiên cứu chính sách phát triên nguôn nhân lực khoa học và công 21 nghệ của Việt Nam dé tích cực chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế trong một số lĩnh vực ưu tiên”, do Trịnh Ngọc Thạch làm Chủ nhiệm [84] đã cho rằng: Hiện nay, tại Việt Nam chưa chính thức đưa ra một định nghĩa thống nhất về nhân lực KH&CN. Trong các tài liệu thống kê về nhân lực KH&CN hiện nay có sự không thống nhất. Một số nghiên cứu, bài viết trên báo/tạp chí đề cập đến nhân lực KH&CN, trong khi một số khác lại đề cập đến nhân lực research and development (R&D) hay nhân lực mang tính chất “tiềm năng”.

Vậy nên hiểu như thế nào cho thống nhất về những thuật ngữ này? Theo đó, tác giả đã đưa ra một số khái niệm về nhân lực KH&CN của các nhà khoa học, các tổ chức trong nước và trên thế giới. Đây là một trong những cơ sở quan trọng dé NCS tham khảo hoàn thành luận án của mình. Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng (2012), đã nghiên cứu, công bố công trình: “Phat triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cau CNH, HDH và hội nhập quốc tế” [67]. Các tác giả đã tập trung làm sáng tỏ những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực; giới thiệu những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới; phân tích thực trạng, những bat cập, thách thức va đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung của nước ta hiện nay.

Bản về vai trò nguồn lực trí tuệ, Nguyễn Văn Khánh, Lại Quốc Khánh, Trương Bích Hạnh, Đặng Anh Dũng, Lưu Tùng Trúc (2013), đã nghiên cứu, công bố công trình: “Xây đựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chan hưng dat nước ” [57]. Công trình đã tập trung làm rõ một số nội dung chính, bao gồm: Những vấn đề lý luận chung về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử và hiện tại; xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong quân đội nhân dân Việt Nam" tập trung vào tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực khoa học và công nghệ trong quân đội, nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc. Các điểm chính của bài viết bao gồm việc đào tạo nhân lực chất lượng cao, ứng dụng công nghệ mới trong quân sự, và sự cần thiết phải phát triển các chương trình nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc phát triển nhân lực không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chiến đấu mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến sự phát triển trong quân đội, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của sĩ quan trẻ quân đội nhân dân Việt Nam, nơi bạn có thể khám phá nhu cầu và động lực nghề nghiệp của sĩ quan trẻ. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ đảng bộ huyện quỳnh lưu tỉnh nghệ an lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang từ 1986 đến 2004 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình xây dựng lực lượng vũ trang trong một giai đoạn quan trọng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận án tiến sĩ lịch sử đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp 1945 1954 để hiểu rõ hơn về lịch sử và sự phát triển của lực lượng vũ trang trong bối cảnh kháng chiến. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.