CHƯƠNG I Boi cảnh lịch sử của trận đánh 1. Hải Phòng - Kiến An trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Do vị trí chiến lược quan trọng của thành phố Cảng, Hải Phòng là một trong những địa phương ở miền Bắc bi quân đội viễn chinh Pháp tô chức tiến công xâm chiếm đầu tiên. Tiếng súng kháng chiến của quân dân Hải Phòng nỗ ra sớm; so với nhiều địa phương khác trong toàn quốc, nhân dân Hải Phòng phải bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước một tháng (từ tháng 11 năm 1946). Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân dân Hải Phòng — Kiến An tuy có gây cho địch những tổn hai nặng nề, song chúng sớm chiếm đóng được thành phố Hải Phòng và nhiều địa bàn quan trọng của tỉnh Kiến An.
Sau khi nổ súng xâm lược, thực dân Pháp đã mau chóng xây dựng Hải Phòng — Kiến An trở thành một khu vực tổng kho, hệ thống căn cứ tiếp tế hậu cần của địch dé chi viện cho cả miền Bắc Đông Dương, trước hết là cho các mặt trận trong đồng băng Bắc Bộ. Vì vậy chúng sớm thực hiện kế hoạch phòng thủ nghiêm mật, vững chắc khu vực Hải Phòng — Kiến An. Trong các thời điểm chiến tranh bao giờ địch cũng tập trung lực lượng quân đội lớn để bảo vệ vị trí đầu cầu chiến lược này. Quân viễn chinh Pháp ở Hải Phòng luôn tập trung đông va som.
Đối với thực dân Pháp, Hải Phong là khu có thủ chiến lược của dich ở đồng băng Bắc Bộ, cảng Hải Phòng là cửa ngõ về đường biển lớn nhất miền Bắc Đông Dương. Từ đây, thực dân Pháp tiếp nhận nhân lực, vật lực dé duy trì và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược. Hải Phòng — Kiến An lại nằm trong địa bàn chiến lược rất trọng yếu của chiến trường chính Bắc Bộ. Khi tiến hành chiến tranh xâm lược trở lại Việt Nam, ý đồ chiến lược của thực dân Pháp là chiếm giữ đồng bằng Bắc Bộ làm chỗ đứng chân, ra sức bình định nhằm biến nơi đây thành hậu phương chiến lược trực tiếp để chúng vơ vét nguồn nhân lực, của cải dồi dào thực hiện âm mưu chiến tranh xâm lược của chúng.
Hải Phòng là một đô thị, hải cảng bị chiếm đóng sớm, Kiến An là vành đai bảo vệ Hải Phòng, cũng bị địch chiếm từ tháng 4 năm 1947. Ngay từ những ngày đầu chiếm đóng, thực dân Pháp đã chú trọng xây dựng thị xã về quân sự, chính trị, kinh tế, biến nơi đây thành hậu cứ chiến lược của chúng trong khu vực có thủ Hải Phòng - Kiến An, làm một trong những bàn đạp xuất phát dé đánh phá vùng duyên hải, đồng bang Bắc Bộ cũng như chi viện cho các chiến trường khác. Lúc này toàn bộ Kiến An chỉ có 2 vùng, đó là vùng địch tạm chiếm và vùng tranh chấp, không có vùng tự do. Ngay sau khi chiếm được Hải Phong và thị xã Kiến An, chúng đã tổ chức đánh theo chiến thuật “vết dầu loang”, xúc tiến các cuộc tiễn công lan chiếm bằng được vùng nông thôn.
Ngay từ đầu, thực dân Pháp đã xác định triệt tiêu tất cả những lực lượng vũ trang thường trực và bán vũ trang ở Hải Phòng. Vì vậy tại đây chỉ có lực lượng bộ đội địa phương chứ không có bộ đội chủ lực. Vì vậy, với đảng bộ Hải Phòng - Kiến An, trở ngại lớn nhất là xa sự chỉ đạo của Liên khu uỷ, của trung ương và hành quân của bộ đội gặp nhiều khó khăn khi đánh sâu vào địa bàn này. Trong hoàn cảnh đặc thù đó, địch có ưu thế nhiều mặt.
Cơ sở kháng chiến của ta luôn luôn bị địch khủng bố, phá vỡ, chỉ hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo có khu du kích nhưng thường xuyên bị địch uy hiếp, càn quét, giành giật. Thực tiễn chiến dau ở những ngày đầu đã đặt hai địa phương Hải Phong và Kiến An phải trở thành một chiến trường, vì vậy ngày 26 tháng 11 năm 1946 Hải Phòng và Kiến An hợp nhất. Cuối tháng 3 năm 1947, bộ đội Vệ quốc đoàn chỉ còn một đại đội ở Kiến An. Bộ chỉ huy chiến khu Ba đã rút hầu hết lực lượng chủ lực về khu.
Từ đây, quân và dân Hải Phòng - Kiến An phải tự đảm đương mọi nhiệm vụ chiến đấu trên các mặt trận địa phương là chính. Đây là một khó khăn rất lớn của Hải Phòng — Kiến An so với nhiều địa phương khác trên cả nước. Do đặc điểm và tính chất của địa bàn nên việc tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang ở tỉnh và thành phố, ngoài những nguyên tắc cơ bản về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, nó còn mang những nét riêng. Trong suốt những năm kháng chiến, trên địa bàn hầu như không có bộ đội chủ lực (của Quân khu và của Bộ) hoạt động, mọi mặt hoạt động, tác chiến đều do lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm, có vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc.
Lực lượng vũ trang địa phương chỉ bao gồm ba thứ quân là bộ đội địa phương tỉnh, bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích. Cuối tháng 2 năm 1948, liên tỉnh uy Hải — Kiến (được thành lập vào 26 tháng 11 năm 1946) đã ra nghị quyết về “Xây dựng căn cứ hậu phương và xây dựng căn cứ ngay trong lòng địch, tổ chức đánh phá địch ở khắp nơi, thực hiện chiến tranh nhân dân về mọi mặt”. Thời kì này Hải Phòng - Kiến An đã hình thành hai vùng rõ rệt: vùng tự do và vùng bị địch chiếm, ngăn cách bởi sông Văn Úc. Thực dân Pháp đã thành lập phân khu Hải Phòng gồm Hải Phòng — Kiến An — Đồ Sơn năm trong khu Duyên Hải.
Chúng buộc phải phân tán các lực lượng cơ động, phan lớn là lính Âu — Phi, làm nhiệm vụ chiếm đóng những nơi trọng yếu và lập những đội ứng chiến nhỏ để càn quét và ứng cứu cho hệ thống đồn bốt khi bị bộ đội ta tan công. Sang năm 1949, sau khi tăng viện cho chiến trường Bắc Bộ hơn 3 vạn quân, thực dân Pháp mở cuộc hành quân đánh chiếm và bình định nhiều địa bàn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chúng ta càng gặp thêm nhiều khó khăn. Lúc này Hải Phòng - Kiến An nằm trong thế bao vây cả bốn phía.
Các địa bàn tự do Tiên Lãng, Vĩnh Bảo không tránh khỏi các cuộc hành quân chiếm đóng tất ác liệt của địch còn ở nội thành phong trào của ta còn hạn hẹp và yếu. Vì nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm nên về tương quan lực lượng thì địch luôn ở thế mạnh: vị trí đóng dày đặc, hàng ngũ hội té, tổ chức do thám chúng cai cắm tới tận thôn xóm. Bat cứ lúc nào thực dân Pháp cũng có thé tập trung can quét, sục sạo, khủng bố, bắn giết nhân dân. Nhân dân Hải Phòng — Kiến An mặc di vẫn luôn hướng về kháng chiến nhưng do vừa phải trải qua những ngày tháng cực kì khó khăn, gian khổ, nên đồng bào còn sợ bị địch khủng bố, sợ cán bộ bị bắt đầu hàng khai báo, liên luy đến mình.
Do đó các cán bộ đi khôi phục, xây dựng cơ sở đã gặp phải vô vàn khó khăn. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến đầu năm 1950 đã có bước phát triển mới, có ý nghĩa chiến lược: Chính quyền nhân dân càng thêm vững chắc, tinh thần chiến đấu của quân dân càng cao, lại được sự ủng hộ của các lực lượng hoà bình và dân chủ thế giới. Tình hình đó tạo ra những điều kiện thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta, bat lợi cho địch. Hải Phòng — Kiến An về lâu đài nằm trong ảnh hưởng những thuận lợi của tình hình mới.
Nhưng trước mắt cuộc chiến đấu còn vô cùng gian khô, quyết liệt. Trong thời gian này, Hải Phòng — Kiến An đã xây dựng và củng cố các đại đội bộ đội địa phương, mỗi huyện có từ một trung đội đến một đại đội và chú trọng hơn đến công tác xây dựng lực lượng dân quân du kích. Về phía thực dân Pháp, do phải tập trung quân cơ động để đánh chiếm đồng bằng và trung du đầu năm 1950 nên chúng phải giảm bớt quân chiếm đóng, rút bỏ một số vị trí it quan trọng trên địa bàn Hải Phòng — Kiến An. Song chúng lại tăng cường hoạt động chính tri, ra sức củng cô nguy quyền và hoạt động gián điệp do thám.
Vùng tạm chiếm Kiến An chúng kết hợp chặt chẽ cả hành động quân sự lẫn thủ đoạn chính trị, càn quét triệt phá cơ sở kháng chiến. Đối với những khu có cơ sở kháng chiến mạnh, chúng tập trung càn quét liên tục, dài ngày, cày đi xới lại 5, 6 tháng liền. Dé đối phó với nguy cơ thất bai trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, Pháp buộc phải cầu xin viện trợ quân sự của dé quốc Mĩ và từ đó ngày cảng phụ thuộc vào Mi. Theo kế hoạch Dolat do Tatxinhi và nhận được viện trợ của Mĩ cả về mặt vật chất và chuyên gia kĩ thuật, địch xây dựng Hải Phòng — trung tâm của vùng chiến thuật và chia thành bốn tiểu khu chỉ huy thăng xuống các quân trấn.
Dựa vào hệ thống đường không, đường bộ, chúng xây dựng hệ thống boong - ke, lô cốt đọc theo các tỉnh Quảng Yên, Hải Dương, Kiến An với nhiều vành đai bao quanh Hải Phòng va sẵn sàng chi viện, ứng cứu cho nhau. Đặc biệt chúng mở rộng sân bay Cát Bi, xây dựng thêm hai sân bay Kiến An, Đồ Sơn và nhiều kho hậu cần được khoét sâu vào hệ thống đồi núi ở Kiến An. Xét trên toàn cục, từ sau Thu Đông 1950, địch đã mất dần quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính nhưng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhất là vùng tạm chiếm sâu như, chúng vẫn tạm thời bình định được. Ngày 19 tháng 4 năm 1951, Ban thường vụ Liên khu uỷ 3 chỉ thị trực tiếp cho thành uỷ Hải Phòng phải chuyên hướng hoạt động: “Nhằm đúng trọng tâm là tranh thủ nhân dân, nắm chắc được dân là yếu to căn bản cho mọi hoạt động” [8, Tr.
Sống trong vòng kiểm soát của địch, nhân dân buộc phải chấp nhận chính quyền bù nhìn, vì muốn được yên ổn làm ăn nhưng tam lòng của đồng bào luôn hướng về kháng chiến, căm thù giặc, thương yêu cán bộ, bộ đội. Nhưng do cách hoạt động lộ liễu trước đây không bảo vệ được dân nên khi cán bộ về bắt liên lạc lúc đầu cũng có nhiều người ngần ngại, SỢ SỆt. Tháng 9 năm 1952, Khu uỷ Tả Ngạn' đã ra nghị quyết về việc phát triển thang lợi sau chiến dịch Hoà Bình.