Tổng quan luận án

Công trình "Đảng lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)" là luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Mã số: 62 22 03 15), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hạnh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Mạnh Hà.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào là quy luật giành thắng lợi của cách mạng hai nước. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc được nâng lên tầm cao mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc ở mỗi nước. Tuy nhiên, việc nhận thức đầy đủ, khoa học và khách quan về sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với liên minh chiến đấu trên mặt trận quân sự và các lĩnh vực liên quan trong suốt giai đoạn 1954-1975, cùng việc đánh giá toàn diện ưu điểm, hạn chế và đúc rút bài học kinh nghiệm lịch sử, vẫn là vấn đề cần được hệ thống hóa chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từ năm 1954 đến năm 1975.
  2. Nêu lên những ưu điểm, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho giai đoạn hiện tại.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 5 nội dung cụ thể:

  1. Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án.
  2. Nêu lên những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam trong quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào.
  3. Phân tích quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo quân dân Việt Nam xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào qua hai giai đoạn: 1954-1965 và 1966-1975.
  4. Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào những năm 1954-1975.
  5. Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo từ quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đối với quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1975.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các chủ trương, biện pháp cơ bản của Đảng trong lãnh đạo quân dân thực hiện liên minh chiến đấu, chủ yếu trên lĩnh vực quân sự, sự phối hợp tác chiến giữa quân đội và nhân dân hai nước; công tác xây dựng lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng; bảo vệ và phát triển tuyến đường Tây Trường Sơn. Ngoài ra, luận án đề cập đến sự liên minh về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục nhằm hỗ trợ hoạt động quân sự, cũng như phản ánh chủ trương từ phía cách mạng Lào.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1954 (sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ) đến năm 1975 (kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ ở cả hai nước).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hai nước Việt Nam và Lào, trong đó chiến trường Lào là địa bàn khảo cứu chủ yếu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Lào nói chung:

  • Viện Sử học - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1985), Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội: Tiêu biểu có bài viết của Nguyễn Việt Phương về vai trò của đường Trường Sơn và bài viết của Nguyễn Hữu Hợp về sự phối hợp chiến đấu trong Đại thắng mùa xuân 1975.
  • Pi-tơ A. Pu-lơ (1986), Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-dơ-ven đến Ních-xơn, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội: Phân tích nguồn gốc và chính sách can thiệp của các đời Tổng thống Mỹ tại Đông Dương.
  • Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội: Khẳng định nguyên tắc liên minh chiến đấu, tôn trọng độc lập tự chủ và quan điểm "giúp bạn là tự giúp mình".
  • Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội: Nêu các bài học về xây dựng mặt trận thống nhất và quy luật liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương.
  • Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2011), Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội: Tập hợp các tham luận của Thiếu tướng Vi-xảy Chăn-thạ-mạt, TS Trương Minh Tuấn, TS Vũ Quang Đạo về nghệ thuật tác chiến và sự phối hợp liên quân.
  • Trịnh Nhu (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội: Trình bày hệ thống quan điểm lý luận và thực tiễn phát triển quan hệ đặc biệt.
  • Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật: Gồm các bài viết của Trung tướng Chănxamản Chănxalạt, Vilayvăn Phômkhê.
  • Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Tập 9: Khẳng định tính tất yếu khách quan của liên minh chiến đấu Đông Dương.
  • Luận án của Phạm Xanh (1994) về Hồ Chí Minh với cách mạng giải phóng dân tộc Lào; Lê Đình Chỉnh (2001) về Quan hệ Việt Nam - Lào trong giai đoạn 1954-1975; các bài báo của Phan Trung Kiên (2009), Nguyễn Mạnh Hà (2012), Trần Văn Thìn (2005), Nguyễn Xuân Ớt (2005), Ngô Quốc Tuấn (2005).
  • Các công trình nghiên cứu nước ngoài: J. Pimlott (1997), Nigel Cawthorne (2007), Gabriel Kolko (2003), Nina S. Adams (1970), P.D Chinnery (1994), D. Welsh (1981), Paul F. Langer và Joseph J. Zasloff (1970), Grant Evans (2002), các tập tài liệu lưu trữ ngoại giao của David S. Patterson (1998) và John P. Glennon (1992).

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào và sự lãnh đạo của Đảng:

  • Các sách chuyên khảo lịch sử: Những chặng đường thắng lợi của cách mạng Lào (1977); Tình nghĩa Việt Nam - Lào mãi mãi bền vững hơn núi hơn sông (1978); Hoàng Văn Thái (1983), Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia; Liên minh đoàn kết chiến đấu đời đời bền vững (1984).
  • Các công trình tổng kết về Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên soạn (1999, 2006, 2010): Phản ánh lịch sử hoạt động của Đoàn 100, Đoàn 959, Đoàn 335, Đoàn 463, Đoàn 565, Đoàn 766, Đoàn 866; các bài viết của Trung tướng Sănhanhắc Phômvihản, TS Nguyễn Đình Lê.
  • Kỷ yếu hội thảo của Bộ Quốc phòng Lào và Bộ Quốc phòng Việt Nam (2013), Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào - Thực tiễn và bài học kinh nghiệm: Các tham luận của Trung tướng Chăn Sa Mon Chăn Nha Lạt, Đại tá Nguyễn Viết Bình, Thiếu tướng Lương Sỹ Nhung, PGS.TS Vũ Quang Đạo.
  • Đề tài cấp Bộ của ThS Nguyễn Xuân Ớt (2006); các bài báo của Lê Văn Phong (2007), Trình Mưu (2008), Phạm Hồng Phi (2012), Trần Văn Thức (2013), Hồ Khang (2014), Nguyễn Thành Cung (2012), Vi-xảy Chăn-thạ-mạt (2013).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận quan hệ hai nước trên diện rộng, hoặc khảo cứu riêng lẻ từng chiến dịch, từng đoàn chuyên gia, quân tình nguyện. Luận án này tập trung làm rõ tính hệ thống trong chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, phân tích các yếu tố tác động, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm cùng nguyên nhân, và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm chuyên sâu dưới góc độ Lịch sử Đảng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án:

  • Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng, bạo lực cách mạng và tình đoàn kết quốc tế vô sản.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào giải phóng dân tộc và nguyên tắc đối ngoại "giúp bạn là mình tự giúp mình".
  • Các quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng Lao động Việt Nam về phối hợp chiến trường Đông Dương và xây dựng liên minh chiến đấu chống đế quốc Mỹ.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án thuộc hướng tiếp cận nghiên cứu lịch sử (định tính), sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử tái hiện tiến trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng theo trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể; phương pháp logic khái quát bản chất, quy luật vận động, ưu điểm, hạn chế và các bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp bổ trợ bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu và phương pháp so sánh lịch sử.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn kiện lưu trữ của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu.
  • Các nguồn tài liệu thực tế tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Viện Sử học và Thư viện Quân đội.
  • Hệ thống sách văn kiện, hồi ký, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội hai nước Việt Nam và Lào.
  • Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu khoa học, bài báo chuyên ngành và một số tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm đề tài: quan hệ Việt Nam - Lào toàn diện và liên minh chiến đấu quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tác giả phân tích những thành quả khoa học đã đạt được của các học giả đi trước về vai trò của liên minh Đông Dương, hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự (Đoàn 100, 959, 335, 463, 565, 766, 866) và tuyến đường Trường Sơn. Đồng thời, chương này chỉ ra các khía cạnh chưa được luận giải đầy đủ, từ đó xác lập các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từ năm 1954 đến năm 1965

Chương 2 trình bày các yếu tố tác động và quá trình triển khai chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1954-1965:

  • Tiền đề lịch sử: Truyền thống đoàn kết thời kỳ kháng chiến chống Pháp; Hiệp ước tương trợ Việt Nam - Lào (16/10/1945); Hiệp định thành lập Liên quân Lào - Việt do Hoàng thân Xuphanuvông làm Tổng chỉ huy (30/10/1945); Chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy tháng 3/1948; quyết định thành lập Quân tình nguyện ngày 30/10/1949; Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1951); thành lập Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào (3/1951); thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào (1953) và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
  • Bối cảnh mới sau Hiệp định Giơnevơ 1954: Mỹ lập khối SEATO (08/9/1954), lập chính quyền thân Mỹ Cắtay ở Lào và Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam. Lực lượng Pathet Lào tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ cùng hành lang Đàn Pẹt (tiểu khu 8), trong khi Quân tình nguyện Việt Nam rút quân về nước theo thời hạn 120 ngày.
  • Chủ trương của Đảng: Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 19/10/1954 về giúp đỡ cách mạng Lào củng cố hai tỉnh tập kết; Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 mở rộng (3/1955); thư của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Trung ương Đảng Nhân dân Lào ngày 30/01/1959; chủ trương của Bộ Chính trị đầu tháng 5/1959 (chỉ định Thiếu tướng Lê Chưởng làm Trưởng đoàn cán bộ Việt Nam giúp Lào); quyết định đầu tháng 7/1959 mở đợt hoạt động quân sự mùa mưa 1959 lấy Tiểu đoàn 2 Pathet Lào làm nòng cốt.
  • Sự chỉ đạo thực tiễn: Cử cố vấn quân sự (Đoàn 100), chuyên gia quân sự (Đoàn 959, 463, 565) và Quân tình nguyện (Đoàn 335); phối hợp cùng quân dân Lào bảo vệ vùng giải phóng, đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ; thành lập Đoàn 559 (tháng 5/1959) nhằm mở tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn qua đất Lào.

Chương 3: Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từ năm 1966 đến năm 1975

Chương 3 phân tích sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh:

  • Hoàn cảnh lịch sử: Mỹ triển khai chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" tại Lào và "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa chiến tranh" tại Việt Nam, sử dụng không quân đánh phá tuyến vận tải Trường Sơn và các vùng giải phóng của Lào.
  • Chủ trương của Đảng: Tăng cường liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương, coi Đông Dương là một chiến trường thống nhất; phối hợp tác chiến đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của Mỹ và quân đội phái hữu Viêng Chăn.
  • Sự chỉ đạo cụ thể:
    • Củng cố và thành lập các đoàn quân sự mới: Đoàn 766 tại Sầm Nưa (03/7/1966), Đoàn 866 tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (17/8/1966).
    • Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang Pathet Lào và phát triển cơ sở chính trị tại các vùng giải phóng.
    • Chỉ đạo Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng Nhân dân Lào mở các chiến dịch quy mô lớn, tiêu biểu là Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn; các chiến dịch tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng và Thượng Lào.
    • Chỉ đạo Bộ Tư lệnh Trường Sơn bảo vệ, mở rộng mạng lưới đường vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, bảo đảm hành lang tiếp tế cho các chiến trường đến ngày thắng lợi năm 1975.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết các ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm trong sự lãnh đạo của Đảng:

  1. Lựa chọn những hình thức, biện pháp phù hợp từng giai đoạn để xây dựng, củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược.
  2. Sớm phát hiện và chủ động giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện liên minh chiến đấu.
  3. Gắn kết chặt chẽ hai mặt xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu với thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu.
  4. Tích cực đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đồng thời chống lại tư tưởng ỷ lại.

Bảng tổng hợp các số liệu lịch sử và mốc thời gian tiêu biểu có trong luận án:

Sự kiện / Đơn vị / Lực lượng Mốc thời gian Số liệu, cứ liệu ghi nhận trong văn bản
Phong trào Việt kiều cứu quốc Lào - Thái Tháng 02/1945 Khoảng 10 vạn Việt kiều (riêng Lào có trên 4 vạn, tập trung ở Viêng Chăn, Thà Khẹt, Savannakhet, Paksé)
Lực lượng Liên quân Lào - Việt ban đầu Năm 1945 - 1946 Viêng Chăn: >600 quân (3 C Việt kiều, 1 C Lào Ítxala); Thà Khẹt: >800 quân (4 C); Savannakhet: >200 quân (2 C)
Chi viện quân sự của Việt Nam cho Lào Năm 1951 Tăng lên 12.000 quân (Thượng Lào: >6.000; Trung Lào: >3.000; Hạ Lào: >2.000)
Chiến dịch Thượng Lào 08/4/1953 - 03/5/1953 Phía Lào: 5 đại đội; Việt Nam: 4 đại đoàn (308, 312, 316, 304) và Trung đoàn 148. Diệt gọn 3 tiểu đoàn và 11 đại đội; giết 1.000 tên, bắt sống 1.800 tên; giải phóng Hủa Phăn và 1/5 diện tích Bắc Lào
Vùng tập kết Pathet Lào sau Giơnevơ 1954 Sau tháng 7/1954 Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ và hành lang Đàn Pẹt (tiểu khu 8) rộng 32.770 km², gồm 32 vạn dân
Viện trợ của Mỹ cho chính quyền Lào Giai đoạn 1955 - 1975 Gần 4 tỷ USD (viện trợ quân sự 3 tỷ USD). Bình quân 1955-1961: 220 triệu USD/năm; 1962-1971: 220 triệu USD/năm; 1972-1975: 260 triệu USD/năm
Quy mô quân đội chính quyền Viêng Chăn Giai đoạn 1954 - 1965 Sau năm 1954 có 10.000 quân; năm 1955 đạt 25.000 quân; cuối năm 1965 tăng lên 70.000 quân
Thành lập các đoàn Quân tình nguyện, Chuyên gia Giai đoạn 1954 - 1966 Đoàn 335 (10/1954), Đoàn 559 (5/1959), Đoàn 463 (15/4/1963), Đoàn 565 (19/5/1965), Đoàn 766 (03/7/1966), Đoàn 866 (17/8/1966)

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định gồm 4 điểm:

  1. Làm rõ những yếu tố tác động và trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1975.
  2. Bước đầu nêu lên những nhận xét về ưu điểm, hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
  3. Đúc rút những kinh nghiệm quý báu từ quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, có thể vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như tiếp tục xây đắp, phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.
  4. Hệ thống hóa các tư liệu có liên quan đến liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào.

Về mặt vận dụng thực tiễn, công trình cung cấp các luận cứ khoa học để quán triệt quan điểm "giúp bạn là mình tự giúp mình", tăng cường sự phối hợp quốc phòng - an ninh và xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị giữa hai quốc gia trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn tài liệu và phạm vi nghiên cứu của đề tài chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án tập trung khảo cứu chủ yếu trên lĩnh vực quân sự, sự phối hợp tác chiến và địa bàn chiến trường Lào. Các mối quan hệ liên minh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục và ngoại giao chỉ được trình bày với tính chất bổ trợ phục vụ cho nhiệm vụ quân sự.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu sâu hơn về sự phối hợp ngoại giao giữa hai nước tại các hội nghị quốc tế, cũng như khai thác thêm các nguồn tài liệu lưu trữ từ phía Nhà nước Lào và các tài liệu lưu trữ quốc tế mới được giải mật.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế và Lịch sử Quân sự.
  • Giảng viên tại các trường đại học, học viện chính trị, quân sự trong việc giảng dạy các chuyên đề về quan hệ quốc tế của Đảng và lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam.
  • Các cán bộ làm công tác nghiên cứu chính sách, đối ngoại, quốc phòng tham khảo các bài học kinh nghiệm về phương thức xây dựng khối liên minh chiến đấu và giải quyết mối quan hệ giữa nghĩa vụ quốc tế và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là hệ thống tư liệu về các đoàn Quân tình nguyện, Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (Chương 2 và Chương 3) và 4 bài học kinh nghiệm được tổng kết tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương châm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào là gì?
Phương châm chỉ đạo xuyên suốt là "giúp bạn là mình tự giúp mình", dựa trên tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng giữa các dân tộc; thực hiện nguyên tắc giúp bạn để bạn tự lực là chính, giúp tận lực để nhân dân Lào tự đảm nhiệm sự nghiệp cách mạng của mình; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi và chống tư tưởng ỷ lại.

2. Địa bàn tập kết của lực lượng cách mạng Pathet Lào sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được xác định tại đâu và có đặc điểm như thế nào?
Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ năm 1954, lực lượng Pathet Lào tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ cùng dải hành lang nối liền hai tỉnh gọi là "Đàn Pẹt" (tiểu khu 8) xuyên qua phía Đông tỉnh Luông Pha Băng. Khu vực này có diện tích khoảng 32.770 km², gồm 32 vạn dân cư trú thuộc nhiều bộ tộc, địa hình rừng núi hiểm trở và tiếp giáp trực tiếp với khu Tây Bắc và Liên khu 4 của Việt Nam.

3. Luận án ghi nhận những đoàn Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự chủ yếu nào của Việt Nam hoạt động tại Lào trong giai đoạn 1954-1975?
Văn bản luận án phản ánh các đoàn tiêu biểu gồm: Đoàn 100 (cố vấn quân sự), Đoàn 959 (chuyên gia quân sự); các đoàn Quân tình nguyện gồm Đoàn 335 (thành lập 10/1954 tại Thượng Lào), Đoàn 766 (thành lập 03/7/1966 tại Sầm Nưa), Đoàn 866 (thành lập 17/8/1966 tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng); các đoàn chuyên gia gồm Đoàn 463 (thành lập 15/4/1963 tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng), Đoàn 565 (thành lập 19/5/1965 tại Nam Lào); cùng Đoàn 559 (thành lập 5/1959, sau đổi tên thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn) phụ trách tuyến vận tải chiến lược.

4. Quy mô viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ vào Lào trong giai đoạn 1955-1975 được thống kê cụ thể ra sao trong luận án?
Trong 20 năm (1955-1975), Mỹ đã viện trợ vào Lào gần 4 tỷ USD, trong đó viện trợ quân sự chiếm 3 tỷ USD. Tính theo từng thời kỳ: giai đoạn 1955-1961 bình quân mỗi năm 220 triệu USD; giai đoạn 1962-1971 bình quân mỗi năm 220 triệu USD; giai đoạn 1972-1975 bình quân mỗi năm 260 triệu USD.

5. Bốn bài học kinh nghiệm được rút ra trong Chương 4 của luận án gồm những nội dung gì?
Bốn bài học kinh nghiệm gồm:

  1. Lựa chọn những hình thức, biện pháp phù hợp từng giai đoạn để xây dựng, củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược.
  2. Sớm phát hiện và chủ động giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện liên minh chiến đấu.
  3. Gắn kết chặt chẽ hai mặt xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu với thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu.
  4. Tích cực đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đồng thời chống lại tư tưởng ỷ lại.

Kết luận

Luận án "Đảng lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hạnh là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được thực hiện công phu, dựa trên nguồn tư liệu phong phú từ các cơ quan lưu trữ Đảng và Quân đội. Công trình đã phục dựng có hệ thống quá trình hình thành, phát triển chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trên mặt trận quân sự qua hai giai đoạn 1954-1965 và 1966-1975. Thông qua việc phân tích khách quan các ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử, luận án đóng góp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử và công cuộc củng cố quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào hiện nay.