Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 92 29 015) với đề tài "Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ năm 1949 đến năm 1961" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Hòa thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Trọng Thơ và TS. Nguyễn Bình.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Xây dựng chính đảng vô sản là nhiệm vụ khách quan, thường xuyên và lâu dài nhằm củng cố vai trò lãnh đạo cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, địa bàn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (chiếm 1/3 diện tích đất liền cả nước) giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu. Đảng bộ Liên khu V được thành lập nhằm thống nhất sự lãnh đạo phong trào kháng chiến trên địa bàn rộng lớn này. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử kháng chiến hoặc lịch sử đảng bộ từng địa phương, nhưng trước thời điểm tác giả thực hiện luận án, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, độc lập và có hệ thống về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V xuyên suốt giai đoạn 1949–1961 trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu V thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 1949 đến năm 1961 trên các phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức; đánh giá những ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử, cung cấp luận cứ khoa học cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ năm 1949 đến năm 1961, xác định các nội dung luận án kế thừa và những vấn đề cần tập trung giải quyết.
    2. Phân tích những nhân tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong hai giai đoạn 1949–1954 và 1954–1961.
    3. Tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu V thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức từ năm 1949 đến năm 1961.
    4. Làm rõ kết quả đạt được, chỉ ra hạn chế, khuyết điểm cùng nguyên nhân; đúc kết kinh nghiệm qua thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V giai đoạn 1949–1961.
  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V.

  • Phạm vi nghiên cứu:

    • Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương, hoạt động thực tiễn và kết quả công tác xây dựng Đảng trên 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; phân tích ưu điểm, khuyết điểm và đúc rút bài học kinh nghiệm.
    • Về không gian: Địa bàn hoạt động và lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu V từ Nam sông Bến Hải (Quảng Trị) đến hết tỉnh Bình Thuận, bao gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên; từ năm 1955 phụ trách thêm khu vực Nam sông Bến Hải (tỉnh Quảng Trị) và tỉnh Thừa Thiên.
    • Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu từ năm 1949 (thời điểm Đảng bộ Liên khu V thành lập) đến năm 1961 (khi Đảng bộ Liên khu V kết thúc nhiệm vụ theo quyết định của Trung ương Đảng). Luận án có đề cập khái quát một số nội dung liên quan ở thời điểm trước năm 1949 và sau năm 1961 để bảo đảm tính liên tục của tiến trình lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã khảo sát, hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm chính sau:

  1. Nhóm các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng toàn quốc:

    • Tác phẩm "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930–1954) – Quyển 2 (1945–1954)" (Viện Lịch sử Đảng, 2021) và "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 (1954–1975)" (Viện Lịch sử Đảng, 1995): Phản ánh chủ trương chỉ đạo chung của Trung ương về xây dựng Đảng và một số nét về bối cảnh Liên khu V, những tổn thất của tổ chức Đảng thời kỳ chống "tố cộng, diệt cộng", song nội dung về Liên khu V chỉ mang tính điểm xuyết.
    • "Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954–1975)" (Viện Lịch sử Đảng, 2015): Phản ánh sự chỉ đạo của Trung ương đối với miền Nam nhưng không đi sâu vào công tác xây dựng nội bộ Đảng bộ Liên khu V.
    • Các tác phẩm biên niên sự kiện: "Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (1945–1954)" (2013); "Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam" tập 2 và tập 3 (2021); "Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954–1975)" (2008).
    • Các công trình tổng kết chiến tranh: "Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Thắng lợi và bài học" (1996) và "Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – Thắng lợi và bài học" (2015) do Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị biên soạn.
  2. Nhóm công trình về lịch sử quân sự và công tác đảng – công tác chính trị trong lực lượng vũ trang:

    • "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945–1954" (tập I, II, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1994); "Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1945–1954), tập 2" (2015); "Lịch sử công tác đảng công tác chính trị trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945–1975" (1994).
    • "Công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu V (1945–2000), Biên niên, tập 2 quyển 1" (2002); "Khu 5 – 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 2" (1989); "Lịch sử Khu 6 kháng chiến chống Mỹ 1954–1975" (1995); "Một số kinh nghiệm chỉ đạo Chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" (1999).
  3. Nhóm sách chuyên khảo và đề tài nghiên cứu lý luận xây dựng Đảng:

    • Sách chuyên khảo về tư tưởng, tổ chức: "Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930–2000" (2000); "Lịch sử Biên niên công tác tư tưởng – văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam" (2 tập, 2005); "Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930–2000)" của Nguyễn Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương Hồng (2005); "Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930–2011)" của Nguyễn Trọng Phúc (2012).
    • Các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng Đảng: Mạch Quang Thắng (2007), Trần Đình Huỳnh (1999), Lê Mậu Hãn (2003), Ngô Đăng Tri (2001).
    • Sách tiểu sử và đề tài khoa học: Sách "Võ Chí Công, Tiểu sử" (2019); Đề tài khoa học cấp bộ do TS. Nguyễn Bình làm chủ nhiệm (2011) và đề tài "Tu chỉnh, bổ sung Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954–1975)" (2019).
  4. Nhóm luận án tiến sĩ và công trình địa phương:

    • Các luận án tiến sĩ liên quan: Võ Thị Thanh Thảo (1999), Nguyễn Bình (2009), Nguyễn Danh Lợi (2012), Đoàn Thị Hương (2014), Nguyễn Thị Xuân (2015), Nguyễn Thị Lan (2015), Trần Quốc Long (1995), Lê Văn Đạt (2002).
    • Các bài báo khoa học trên Tạp chí Lịch sử Đảng của Trần Quốc Long (1994), Nguyễn Bình (2008).
    • Các công trình Lịch sử Đảng bộ các tỉnh, thành: Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng.
  • Khoảng trống luận án tập trung giải quyết: Các công trình đã công bố phần lớn tiếp cận dưới góc độ lịch sử kháng chiến toàn diện hoặc chuyên biệt về lực lượng vũ trang, chỉ đề cập công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V một cách tản mạn, thiếu tính hệ thống; nhiều tài liệu lưu trữ gốc của Liên khu ủy V chưa được khai thác sâu; các hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm trong xây dựng nội bộ tổ chức đảng ở Liên khu V chưa được luận giải đầy đủ. Luận án đặt công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V (1949–1961) làm đối tượng nghiên cứu độc lập để lấp đầy khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật Mác – Lênin, các nguyên tắc tổ chức và xây dựng chính đảng kiểu mới của V.I. Lênin, cùng hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.

  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp lịch sử: Dùng để tái hiện toàn bộ tiến trình công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V theo trình tự thời gian khách quan (1949–1961), phản ánh tính cụ thể, chân xác của các sự kiện, bối cảnh, hội nghị, quyết sách và số liệu lịch sử.
    • Phương pháp logic: Dùng để phân tích mối liên hệ bản chất giữa các mặt công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức; đánh giá các ưu điểm, khuyết điểm và khái quát những kinh nghiệm lịch sử có giá trị vận dụng.
    • Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu nhằm làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Trung ương và thực tiễn triển khai tại địa phương.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:

    • Các văn kiện Đại hội, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (1949–1961).
    • Các văn kiện của Đảng bộ Liên khu V, Liên khu ủy V và các cấp bộ Đảng trực thuộc lưu trữ tại Cục Lưu trữ – Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng và bộ sách Văn kiện Đảng toàn tập.
    • Các ấn phẩm lịch sử đảng bộ địa phương, lịch sử quân sự, kỷ yếu, hồi ký, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhân chứng lịch sử (Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công, Nguyễn Duy Trinh...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu đã công bố theo từng nhóm chủ đề (nghiên cứu lịch sử Đảng toàn quốc, lịch sử quân sự, chuyên khảo công tác xây dựng Đảng, luận án tiến sĩ và lịch sử đảng bộ các địa phương tại Nam Trung Bộ – Tây Nguyên). Tác giả nhận xét: các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng nhưng còn thiên về phản ánh thành tích kháng chiến, phân tích công tác xây dựng Đảng còn điểm xuyết và chưa có tính hệ thống. Từ đó, chương 1 xác định rõ 4 vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết: phân tích nhân tố tác động, tái hiện thực tiễn xây dựng Đảng trên 3 mặt chính trị - tư tưởng - tổ chức, đánh giá ưu khuyết điểm và rút ra bài học kinh nghiệm.

Chương 2: Đảng bộ Liên khu V ra đời, thực hiện công tác xây dựng Đảng (1949–1954)

Chương 2 trình bày bối cảnh thành lập và thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

  • Đặc điểm địa bàn và tổ chức: Liên khu V được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu V, Khu VI và Khu XV theo Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10-1948. Địa bàn gồm 12 tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, diện tích 100.336 km² (bằng 1/3 cả nước), dân số năm 1950 khoảng 3.000.000 người thuộc 23 dân tộc. Địa bàn bị chia cắt thành vùng tự do (khoảng 23.000 km², gồm nam Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) và vùng tạm bị chiếm (khoảng 77.000 km²).
Tỉnh / Khu vực (năm 1950) Dân số (người) Đặc điểm phân vùng
Quảng Nam 952.000 Phía Nam thuộc vùng tự do, phía Bắc bị tạm chiếm
Quảng Ngãi 613.000 Vùng tự do trọng điểm
Bình Định 688.000 Vùng tự do trọng điểm
Phú Yên 254.000 Vùng tự do
Khánh Hòa 91.000 Vùng tạm bị chiếm
Bình Thuận 94.000 Vùng tạm bị chiếm
Ninh Thuận 70.000 Vùng tạm bị chiếm
Kon Tum 367.000 Tây Nguyên / vùng tạm bị chiếm
Gia Lai và Lâm Viên 167.000 Tây Nguyên / vùng tạm bị chiếm
Đắk Lắk 123.000 Tây Nguyên / vùng tạm bị chiếm
Đồng Nai Thượng 73.000 Tây Nguyên / vùng tạm bị chiếm
Toàn Liên khu V ~ 3.000.000 12 tỉnh (23 dân tộc anh em)
  • Sự thành lập Đảng bộ và Đại hội I (tháng 3-1949): Tháng 3-1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ I được tổ chức tại huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Đại hội chủ trương xây dựng Đảng bộ thành bộ phận vững chắc của "Đảng quần chúng", phát triển cơ sở ở các đô thị và vùng chiến lược; thành lập Đảng khu Hạ Lào trực thuộc Liên khu ủy V. Đại hội bầu Liên khu ủy gồm 15 đồng chí: Nguyễn Duy Trinh (Bí thư kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến), Bùi San, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Côn, Ngô Đức Đệ, Nguyễn Văn Minh, Trần Lương, Nguyễn Chánh, Trương Quang Giao, Trần Lê, Nguyễn Đức Dương, Trần Quỳnh, Trịnh Huy Quang, Nguyễn Văn Chi, Trần Tống.

  • Thực tiễn xây dựng Đảng (1949–1954):

    • Về chính trị: Quán triệt đường lối kháng chiến kiến quốc, chuyển mạnh sang chuẩn bị tổng phản công. Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ II (tháng 7 đến tháng 8-1951 tại An Lão, Bình Định) kiểm điểm việc thực hiện chủ trương "Đảng quần chúng", uốn nắn tình trạng chi bộ đông nhưng chất lượng đảng viên yếu; chỉ đạo thực hiện thắng lợi chính sách thuế nông nghiệp (từ năm 1951), khắc phục nạn đói năm 1952 (vốn làm mất mùa 60–70% tại 4 tỉnh tự do, khiến 23 vạn dân bị đói), thực hiện giảm tô, giảm tức (1953) và chuẩn bị cải cách ruộng đất. Xử lý kịp thời vụ bạo động Sơn Hà (Quảng Ngãi, đầu năm 1950) do sai lầm trong vận động quần chúng đồng bào miền núi.
    • Về tư tưởng: Tiến hành các đợt chỉnh huấn, học tập lý luận Mác – Lênin, nâng cao ý chí tự lực cánh sinh, khắc phục tư tưởng chủ quan, trông chờ bên ngoài và cục bộ địa phương.
    • Về tổ chức: Phát triển mạng lưới chi bộ từ đồng bằng lên miền núi, xây dựng chi bộ xã thành hạt nhân lãnh đạo. Toàn khu từ chỗ có 16.000 đảng viên (tháng 3-1949, gồm 60 nữ, 50 đảng viên dân tộc thiểu số) đã phát triển nhanh chóng, đồng thời tiến hành chấn chỉnh tổ chức bộ máy và quản lý đảng viên.

Chương 3: Đảng bộ Liên khu V xây dựng, củng cố tổ chức Đảng (1954–1961)

Chương này phản ánh hoạt động xây dựng Đảng trong điều kiện miền Nam chuyển sang giai đoạn mới sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.

  • Bối cảnh và chuyển hướng chiến lược: Sau tháng 7-1954, toàn bộ Liên khu V trở thành vùng đối phương kiểm soát. Chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai các chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" tàn bạo, luật 10/59, lập các khu trù mật, gây thiệt hại nặng nề cho các cơ sở đảng. Đảng bộ phải tiến hành bố trí lại lực lượng: một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chuyển quân tập kết ra Bắc; bộ phận ở lại chuyển sang hoạt động bí mật, bám dân để bảo vệ cơ sở.
  • Thực hiện công tác xây dựng Đảng (1954–1961):
    • Về chính trị: Nắm vững nhiệm vụ chuyển hướng từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, chống khủng bố; sau đó quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (năm 1959), kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, lãnh đạo phong trào Đồng khởi và khởi nghĩa từng phần.
    • Về tư tưởng: Giữ vững niềm tin cách mạng, kiên định lập trường giai cấp trong tình thế bị địch khủng bố khốc liệt; đấu tranh chống tư tưởng hoang mang dao động, sợ địch, chống khuynh hướng thỏa hiệp cũng như tư tưởng nóng vội, manh động.
    • Về tổ chức: Kiện toàn bộ máy lãnh đạo từ Liên khu ủy đến các tỉnh ủy theo phương châm tinh gọn, bí mật; phân tán tổ chức, thiết lập hệ thống liên lạc bí mật; xây dựng các "chi bộ mật", bảo vệ cán bộ lãnh đạo chủ chốt; củng cố các căn cứ địa miền Tây làm bàn đạp chỉ đạo phong trào.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết thực tiễn, phân tích các ưu điểm, hạn chế và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm:

  • Ưu điểm: Đảng bộ Liên khu V luôn giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, linh hoạt vận dụng chủ trương của Trung ương vào địa bàn đặc thù; xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc và liên minh công nông – trí thức; kiên cường giữ gìn tổ chức trong tình thế hiểm nghèo.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Có thời kỳ phát triển đảng viên nóng vội chạy theo số lượng ("Đảng quần chúng"), sau đó lại máy móc thanh lọc theo thành phần giai cấp; sai sót trong chính sách dân tộc và huy động sức dân dẫn đến vụ bạo động Sơn Hà (1950); việc chuyển hướng bí mật sau năm 1954 ở một số nơi còn chậm trễ, lúng túng làm bộc lộ lực lượng.
  • 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết:
    1. Quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, căn cứ tình hình địa phương để tiến hành xây dựng chủ trương, nhiệm vụ chính trị sát đúng.
    2. Thường xuyên tiến hành công tác tư tưởng, bảo đảm và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
    3. Đề phòng và khắc phục sự máy móc, "tả" khuynh trong công tác xây dựng Đảng.
    4. Xây dựng và bảo vệ tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên bảo đảm chất lượng, số lượng.
    5. Dựa vào dân, vào phong trào cách mạng của quần chúng để xây dựng Đảng.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu: Luận án đã sưu tầm, xác minh và hệ thống hóa một khối lượng lớn tài liệu gốc lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Viện Lịch sử Đảng về các nghị quyết, chỉ thị, biên bản hội nghị của Liên khu ủy V từ năm 1949 đến năm 1961. Nhiều văn kiện lịch sử về công tác tổ chức, chỉnh đốn đảng và các báo cáo nội bộ lần đầu tiên được khảo sát và công bố đầy đủ trong một công trình tiến sĩ.

  2. Về mặt nội dung khoa học:

    • Tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V xuyên suốt 12 năm (1949–1961), làm rõ tính liên tục và sự chuyển hướng linh hoạt giữa hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
    • Phân tích khách quan các sai lầm, khuyết điểm cụ thể (như tư tưởng phát triển ồ ạt, việc xử lý quan hệ dân tộc tại vùng cao, các biểu hiện tả khuynh trong chỉnh Đảng) và cách thức khắc phục của Đảng bộ Liên khu V, qua đó làm sáng tỏ quy luật vận động thực tiễn của công tác xây dựng Đảng tại vùng chiến trường ác liệt.
    • Cung cấp các luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ 1949 (thành lập Liên khu V) đến 1961 (khi tổ chức Đảng chuyển sang cơ chế lãnh đạo mới theo Nghị quyết của Trung ương). Do điều kiện chiến tranh ác liệt trong giai đoạn 1954–1961, một số nguồn tài liệu lưu trữ cơ sở ở cấp huyện, xã tại vùng địch tạm chiếm bị thất lạc, ảnh hưởng đến độ đồng đều của dữ liệu chi tiết giữa các địa phương.

  • Hướng nghiên cứu tiếp: Từ kết quả của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở Khu V trong giai đoạn 1961–1975, hoặc đi sâu phân tích so sánh mô hình xây dựng Đảng giữa vùng căn cứ miền núi và vùng đô thị/đồng bằng tạm chiếm ở Nam Trung Bộ.


Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Lịch sử Việt Nam hiện đại. Công trình cũng hữu ích cho các cán bộ làm công tác tuyên giáo, tổ chức cán bộ và cấp ủy đảng các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên.

  • Các nội dung đáng tham khảo:

    • Toàn bộ hệ thống dữ liệu tư liệu gốc về các kỳ Đại hội và Hội nghị Liên khu ủy V (giai đoạn 1949–1961).
    • Phân tích về phương thức tổ chức và bảo vệ tổ chức đảng khi chuyển từ công khai sang hoạt động bí mật sau năm 1954.
    • Các bài học về xử lý mối quan hệ giữa công tác tư tưởng, chỉnh đốn tổ chức với công tác vận động quần chúng và chính sách dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Đảng bộ Liên khu V được thành lập vào thời gian nào và cơ cấu ban lãnh đạo đầu tiên gồm những ai?
Đảng bộ Liên khu V được thành lập chính thức tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ I tổ chức vào tháng 3-1949 tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Liên khu ủy gồm 15 ủy viên: Nguyễn Duy Trinh (Bí thư kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến), Bùi San, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Côn, Ngô Đức Đệ, Nguyễn Văn Minh, Trần Lương, Nguyễn Chánh, Trương Quang Giao, Trần Lê, Nguyễn Đức Dương, Trần Quỳnh, Trịnh Huy Quang, Nguyễn Văn Chi và Trần Tống.

2. Quy mô địa bàn và dân số thuộc phạm vi lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu V khi mới thành lập ra sao?
Liên khu V thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu V, Khu VI và Khu XV, gồm 12 tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên). Tổng diện tích đất liền là 100.336 km² (chiếm 1/3 diện tích cả nước). Dân số năm 1950 khoảng 3.000.000 người thuộc 23 dân tộc anh em; trong đó có khoảng 72 vạn tín đồ Công giáo và 31 vạn tín đồ Cao Đài.

3. Trong giai đoạn 1949–1954, Đảng bộ Liên khu V đã xử lý các vấn đề nội bộ và khó khăn kinh tế như thế nào?
Đảng bộ đã tiến hành chấn chỉnh nhận thức về "Đảng quần chúng" tại Đại hội II (1951), tổ chức các lớp chỉnh huấn nâng cao chất lượng đảng viên; giải quyết nạn đói nghiêm trọng năm 1952 (khiến mùa màng mất 60–70% và 23 vạn dân bị đói) bằng các biện pháp tăng gia sản xuất, cứu tế, cải cách thuế nông nghiệp; đồng thời thành lập Ban Chỉ huy miền Tây để giải quyết triệt để sai sót trong công tác vận động đồng bào tại vụ bạo động Sơn Hà (đầu năm 1950).

4. Thách thức lớn nhất đối với công tác tổ chức của Đảng bộ Liên khu V trong giai đoạn 1954–1961 là gì?
Thách thức lớn nhất là việc Đảng bộ phải chuyển toàn bộ hệ thống sang hoạt động trong vùng đối phương kiểm soát hoàn toàn, đối mặt với các chính sách "tố cộng, diệt cộng" tàn khốc của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đảng bộ phải vừa tiến hành chuyển quân tập kết, vừa phân tán tổ chức, rút vào hoạt động bí mật, xây dựng các chi bộ mật và căn cứ miền núi để bảo vệ cán bộ, giữ gìn lực lượng và duy trì sự lãnh đạo đối với quần chúng.

5. Luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm cốt lõi nào cho công tác xây dựng Đảng?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm: (1) Quán triệt đường lối của Trung ương gắn với xây dựng chủ trương sát đúng đặc thù địa phương; (2) Thường xuyên tiến hành công tác tư tưởng, giữ vững đoàn kết nội bộ; (3) Đề phòng và khắc phục bệnh máy móc, "tả" khuynh; (4) Xây dựng và bảo vệ tổ chức Đảng cùng đội ngũ cán bộ bảo đảm cả chất lượng và số lượng; (5) Luôn dựa vào dân và phong trào cách mạng của quần chúng để xây dựng Đảng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Hòa là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh chân xác và hệ thống quá trình xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong giai đoạn 1949–1961 trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bằng nguồn sử liệu gốc phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp logic, luận án đã làm rõ những thành tựu lãnh đạo to lớn cũng như phân tích thấu đáo các hạn chế, khuyết điểm trong từng thời kỳ cách mạng. Các kết quả nghiên cứu và 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn Liên khu V đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.