Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng từ năm 2001 đến năm 2005. Chương 2: Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng từ năm 2006 đến năm 2014. Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu. z 14 Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.
Sự cần thiết vận động ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và chủ trƣơng của Đảng 1. Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài - Hoàn cảnh người Việt Nam ra nước ngoài Khái niệm “Người Việt Nam ở nước ngoài” lần đầu tiên được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998. Điều 2 khoản 3 định nghĩa “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” [57]. Trong Luật quốc tịch Việt Nam, Quốc hội thông qua năm 2008, Điều 3 quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [58, điều 3].
Cách đây hàng trăm năm đã có người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Theo lịch sử ghi lại thì hoàng tử Lý Long Tường, con thứ hai của vua Lý Anh Tông, đã sang Cao Ly tị nạn từ thế kỷ thứ XII. Đến thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX cùng với lịch sử truyền giáo của các nước phương Tây và việc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, phạm vi cư trú của người Việt Nam ra nước ngoài được mở rộng. Thời kỳ này, có một số tín đồ đạo Thiên chúa từ Việt Nam di cư sang Siam (Thái Lan), nhiều người di cư sang Pháp và một số thuộc địa của Pháp như Tahiti, Niu Dilân.
Cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX số người Việt Nam ra nước ngoài tăng lên về số lượng và đặc biệt là về chất lượng. Cùng với việc mở z 15 rộng kiều cư ra các nước châu Á là các phong trào hoạt động yêu nước mà rầm rộ nhất là phong trào Đông Du. Phan Bội Châu hoạt động tại Nhật Bản và Trung Hoa từ năm 1904 cho đến năm 1925; cũng từ năm 1904, Tăng Bạt Hổ xuất dương sang Nhật mưu đồ cứu nước, rồi bôn ba ngót 20 năm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và đến cả nước Nga; Nguyễn Thượng Hiền từ năm 1907 và Phạm Hồng Thái từ năm 1918 đã trở thành một chí sĩ người Việt Nam ở nước ngoài chiến đấu cho độc lập dân tộc và hy sinh ở Trung Quốc…Bên cạnh sự hoạt động của người Việt Nam ở nước ngoài thuộc các nước phương Đông, người Việt Nam ở các nước phương Tây cũng có nhiều hoạt động sôi nổi. Có một số nhân vật lỗi lạc đã trở thành niềm tự hào của người Việt Nam ở nước ngoài đó là Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh …và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành.
Từ năm 1911, Người đã sống và hoạt động cách mạng trên các châu lục và trở thành Nguyễn Ái Quốc - một nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, nhiều người Việt Nam yêu nước đã vượt biển đến vùng đông bắc Thái Lan để hoạt động chống thực dân Pháp. Cùng thời gian này, một số người Việt Nam khác cũng bị thực dân Pháp đưa sang Lào và Campuchia làm phu đồn điền. Thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam 1954-1975 số người Việt Nam ra nước ngoài tăng hơn, chủ yếu là để học tập và một phần là ra đi để trốn quân dịch.
Cho đến khi Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam, toàn bộ ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ thì cả một làn sóng di cư ồ ạt từ Việt Nam ra nước ngoài, mà trước hết là đến Mỹ, Canada, Ôxtrâylia, Pháp… đã làm cho số lượng người Việt Nam ở nước ngoài tăng vọt. Những năm 1975-1980, cuộc di cư ồ ạt do thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã trở thành những đường dây vượt biên theo nhiều cách. Theo thống kê của Cơ quan Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) thì từ năm 1975 đến năm 1991, có hơn một triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Năm 1979 là z 16 năm có người ra đi nhiều nhất (khoảng hơn 20 nước ngoài do sự kiện xung đột quân sự tại biên giới phía Bắc và những biến động tại Campuchia, tại mặt trận biên giới Tây Nam; có một phần nhỏ đi bằng đường bộ, nhưng chủ yếu đi bằng đường thủy và họ được gọi là “vạn người”), trung bình có hơn 1,5 vạn mỗi tháng.
Số người này đến Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Nhật Bản và chính quyền ở đây chỉ cho “tạm trú” trong các trại tị nạn để được chọn chuyển đi định cư ở nước thứ ba. Và cũng theo UNHCR cho biết đến tháng 2-1985, các nước phương Tây đã tiếp nhận 555.573 “thuyền nhân” từ các tỉnh, thành thuộc miền Nam Việt Nam. Đến nay, hiện có “gần 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập tại 109 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới” [24]. Do nhu cầu của cuộc sống, trên 2/3 người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch sở tại.
Có thể phân chia cộng đồng làm 3 khu vực với những điểm khác biệt tương đối rõ: Số lượng và sự phân bố người Việt Nam ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật và Ôxtrâylia chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự kiện Mỹ thất bại tại Việt Nam hồi tháng 4-1975. Phần lớn cộng đồng đã hòa nhập, ổn định về địa vị pháp lý và kinh tế, có tiềm năng về tri thức, có khả năng giúp mở rộng quan hệ, mở thị trường. Tuy vậy đây cũng là nơi tập trung nhiều người có quan hệ với chính quyền cũ hoặc gắn bó quyền lợi với chế độ thực dân, thù hận, mặc cảm với chính quyền cách mạng. Khu vực các nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á cộng đồng hình thành sớm, gắn bó với trong nước, tinh thần cách mạng cao, có nhiều đóng góp cho các cuộc kháng chiến của dân tộc.
Nhìn chung điều kiện kinh tế kiều bào nơi đây còn khó khăn hơn các khu vực khác, ít người được học cao. Trong khi đó kiều bào ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu lại có những nét đặc thù riêng. Cộng đồng hình thành chủ yếu sau năm 1990 z 17 kể từ khi chế độ XHCN ở các nước trên không còn, phần lớn là cán bộ, học sinh được cử đi công tác, học tập và lao động đã ở lại. Những năm 1980-1989 ở đây mới có khoảng 2000 người.
Năm 1990 tăng lên 6000 người và hiện nay ước tính có khoảng 300.000 người [25, tr. Tâm lý chung của kiều bào ở khu vực này là sẽ trở về Việt Nam khi điều kiện làm ăn khó khăn hoặc khi đã tích lũy được một số vốn nhất định. - Sự cần thiết vận động người Việt Nam ở nước ngoài Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, kể từ khi thành lập Đảng cho đến nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng lớn mạnh, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhiều kiều bào và nhiều tổ chức quần chúng của người Việt Nam ở ngoài nước không ngại khó khăn và cách trở, luôn hướng về Tổ quốc bằng những “tấm lòng vàng” và hành động thiết thực.
Hiện nay “có gần 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập và công tác ở hơn 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới” [24]; trong đó, trên 80% ở các nước công nghiệp phát triển. Đa số người Việt Nam ở nước ngoài đoàn kết, phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tôn trọng luật pháp, phong tục tập quán của nước sở tại; tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Các tổ chức hội, câu lạc bộ, ban liên lạc… của người Việt Nam ở nước ngoài được hình thành và ngày càng phát triển.000 tổ chức hội, đoàn, câu lạc bộ… chủ yếu là của kiều bào ta đang hoạt động; có hàng trăm tổ chức đảng, tổ chức quần chúng chủ yếu của cán bộ, đảng viên, lưu học sinh, người lao động Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc các tổ chức thuộc hệ thống chính trị trong nước. Nội dung sinh hoạt đa dạng, phong phú như: văn hoá, thể thao, trao đổi học thuật, giao lưu, nắm bắt thông tin, quyên góp ủng hộ, giúp đỡ đồng bào trong và ngoài nước… z 18 Hiện có trên 400.000 trí thức kiều bào, chiếm gần 10% số người Việt Nam ở nước ngoài, họ là chuyên gia giỏi đang làm việc ở những lĩnh vực công nghệ cao: điện tử, sinh học, vật liệu mới, hàng không vũ trụ… nhiều người nắm giữ những vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước và các tổ chức quốc tế.
Đại đa số trí thức Việt kiều dù sống xa Tổ quốc, nhưng luôn nuôi dưỡng, giữ gìn và phát huy tinh thần yêu nước, hướng về cội nguồn và dòng tộc; nhiều người đã đóng góp vật chất, tinh thần cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, họ luôn mong muốn làm nhịp cầu giúp đất nước tiếp thu công nghệ tiên tiến, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa… Các doanh nhân là người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều lợi thế tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Họ đã tích cực vận động cho việc ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế; giúp doanh nghiệp trong nước tìm hiểu thị trường, pháp luật kinh doanh và thúc đẩy quan hệ với các đối tác.