Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học với đề tài "Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay" tập trung nghiên cứu công tác tuyên truyền (CTTT) dưới góc độ khoa học chính trị, tiếp cận như một phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền cốt lõi của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế toàn diện.
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Dưới góc độ chính trị học, CTTT là hình thức hoạt động quan trọng của một đảng chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. CTTT là bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng, có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng, xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và cổ vũ quần chúng. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, CTTT không chỉ là phương thức truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn trở thành phương thức cầm quyền, là mắt xích trong chu trình chính sách công từ nghị trình, quyết định, thực thi đến đánh giá chính sách.
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế (HNQT), CTTT của Đảng đã có những đóng góp vào sự ổn định và phát triển. Tuy nhiên, trước các yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, CTTT bộc lộ nhiều hạn chế:
- Nguyên nhân khách quan: Xuất phát điểm kinh tế - xã hội của đất nước còn thấp khi tham gia HNQT; tình hình thế giới biến động phức tạp.
- Nguyên nhân chủ quan: Nội dung tuyên truyền về HNQT còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật kịp thời, thiếu tính chủ động. Phương pháp tuyên truyền cơ bản vẫn mang tính một chiều, còn biểu hiện chủ quan, giáo điều, hình thức, thiếu đối thoại và tranh luận dân chủ. Công tác định hướng thông tin còn chậm, dẫn đến việc các thông tin không chính thống, thông tin tiêu cực lan truyền rộng rãi; việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái còn bị động, thiếu sắc bén. Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu; tổ chức bộ máy chưa tinh gọn; đội ngũ cán bộ tuyên truyền còn hạn chế về năng lực chuyên môn, trách nhiệm và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin.
Bối cảnh thực hiện các chủ trương lớn của Đảng—từ Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (Khóa IX), Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa X) ngày 05/02/2007 khi gia nhập WTO, đến Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT—đòi hỏi CTTT phải chuyển dịch từ mô hình một chiều "Đảng nói, dân tin" sang việc kết hợp chặt chẽ giữa "Đảng làm, dân theo" và "Dân nói, Đảng nghe".
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là việc thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về CTTT của Đảng dưới góc độ chính trị học gắn với việc thực thi quyền lực của Đảng cầm quyền trước các tác động đa chiều của tiến trình HNQT toàn diện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới CTTT của Đảng; phân tích, đánh giá thực trạng CTTT của Đảng trong quá trình HNQT ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT đáp ứng yêu cầu của HNQT hiện nay, góp phần thực hiện thành công tiến trình hội nhập.
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở trong nước và nước ngoài.
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cần thiết về CTTT của Đảng và yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ thực trạng (kết quả, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra) của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015.
- Đề ra hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay và những năm tiếp theo.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tuyên truyền của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đổi mới CTTT của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu HNQT.
- Khách thể nghiên cứu: Các văn kiện, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan; các báo cáo thực tế của các cơ quan chức năng; hệ thống tài liệu thứ cấp trong và ngoài nước.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Góc độ tiếp cận: Tiếp cận dưới góc độ khoa học chính trị (chính trị học), xem xét CTTT với tư cách là một phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Thời gian: Giai đoạn từ năm 2007 (thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO) đến năm 2015.
- Không gian: Khảo sát tập trung tại Ban Tuyên giáo Trung ương, một số bộ, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan báo chí, truyền hình ở Trung ương và Ban Tuyên giáo của một số tỉnh ủy, thành ủy đại diện cho các vùng miền trên cả nước.
- Nội dung: Các hoạt động CTTT của Đảng trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng (ANQP) và đối ngoại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu theo hai nhóm chính: tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu trong nước.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả / Công trình tiêu biểu |
Nội dung / Hướng tiếp cận chính |
| Nước ngoài (Lý luận Mác - Lênin & Xô Viết) |
- V.I. Lênin: Tác phẩm "Làm gì?" [119], các bài viết thời kỳ NEP [121], [122] - C. Mác và Ph. Ăngghen: "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" [42], Luận điểm Mác [44] - M. Calinin: "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" [91] - V. Cruchetxki [118] |
Luận giải bản chất, mục đích của CTTT vô sản; vai trò biến lý luận thành lực lượng vật chất; phương pháp tổ chức, đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên truyền; quy luật tâm lý và giáo dục đạo đức cộng sản. |
| Nước ngoài (Nghiên cứu tại Trung Quốc) |
- Ban Tuyên huấn Trung ương ĐCS Trung Quốc [21] - Trần Khang, Lê Cự Lộc dịch [71] - Giang Trạch Dân [47], Tập Cận Bình [33] - B. Mozias [40], Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi [109] - Bùi Phương Dung [47], Phạm Vân Như [71], Điền Trung Mẫn |
Tổng kết kinh nghiệm tuyên truyền tư tưởng trong cải cách mở cửa; cấy ghép giá trị thị trường vào hệ tư tưởng; tiêu chí đánh giá hiệu quả CTTT; thiết lập cơ chế phản hồi dư luận xã hội nhanh. |
| Trong nước (Vị trí, vai trò, nguyên lý CTTT) |
- Đào Duy Tùng: "Một số vấn đề về công tác tuyên truyền" [117] - Lương Khắc Hiếu: "Nguyên lý công tác tư tưởng" [64] - Trương Minh Tuấn: "Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây Nguyên..." [116] - Phạm Tất Thắng: "Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới" [108] - Xuân Anh [4], Ban Chỉ đạo Trung ương Nông thôn mới [8] |
Khẳng định CTTT là phương thức lãnh đạo cốt lõi; phân tích 2 nhóm điều kiện nâng cao hiệu quả CTTT (môi trường sống và các yếu tố nội tại); ứng dụng CTTT trong các địa bàn trọng điểm và chương trình mục tiêu quốc gia. |
| Trong nước (Thực trạng, đổi mới và giải pháp) |
- Ban Tuyên giáo Trung ương: Giáo trình, đề tài nghiên cứu [11], [12], [13], [14] - Lê Hồng Anh: Các bài viết về tuyên giáo và thông tin đối ngoại [1], [2] - Hà Học Hợi: "Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng" [69] - Trần Thị Anh Đào: Các chuyên khảo về đào tạo cán bộ tư tưởng [59], [60] - Tỉnh ủy Quảng Ninh: Kỷ yếu hội thảo [110] (Vũ Văn Phúc, Lê Hữu Nghĩa, Hà Đăng, Trần Khắc Việt) - Ban Đối ngoại Trung ương [9] |
Phân tích thực trạng CTTT kinh tế và đối ngoại; chỉ ra sự đơn điệu, xơ cứng trong phương pháp; đề xuất giải pháp đổi mới công tác tuyên giáo và phương thức lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh kinh tế thị trường. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng thuật từ các công trình nghiên cứu trên, tác giả chỉ ra ba khoảng trống khoa học chính:
- Các công trình trước đây phần lớn dừng lại ở vấn đề lý luận chung hoặc kinh nghiệm quốc tế, chưa phân tích thấu đáo tính đặc thù của Việt Nam khi hội nhập; chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của CTTT đối với phát triển kinh tế mà chưa đi sâu vào các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, ANQP và đối ngoại.
- Các nghiên cứu về CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT dưới góc độ khoa học chính trị và chính trị học còn ít, chưa làm rõ bản chất của CTTT như một phương thức thực thi quyền lực chính trị của Đảng cầm quyền.
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá toàn diện về các yêu cầu mới và tác động nhiều chiều của HNQT đối với sự cần thiết phải đổi mới CTTT của Đảng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Hệ tư tưởng và nền tảng lý luận: Luận án dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng, CTTT và đường lối đối ngoại, HNQT.
- Khái niệm công tác tuyên truyền: Là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó.
- Khái niệm CTTT như một phương thức cầm quyền: CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền không chỉ là truyền bá chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước (sự cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng) đến quần chúng nhân dân nhằm thực thi quyền lực chính trị và quản lý xã hội.
- Các đặc trưng của CTTT với tư cách phương thức cầm quyền: Luận án xác lập 3 đặc tính cơ bản:
- Tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng): Thể hiện ở tính khoa học, khách quan, trung thực; tính chính đáng; tính chủ động, kịp thời; tính dự báo vượt trước; tính nhạy bén, sáng tạo.
- Tính chính thống: Thể hiện ở tính đại diện, tính hợp pháp, tính công khai, tính trách nhiệm và được vận hành trong khuôn khổ Điều lệ Đảng cùng Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
- Tính tổng hợp: Triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính, sử dụng hệ phương pháp luận và các phương pháp chuyên ngành chính trị học:
- Phương pháp luận: Sử dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của kinh tế - xã hội, tiến trình HNQT với sự vận động, biến đổi của CTTT của Đảng.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các văn kiện của Đảng, các báo cáo tổng kết thực tiễn tuyên giáo để rút ra các luận điểm lý luận và đánh giá thực trạng.
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Theo dõi tiến trình phát triển tư duy đối ngoại và CTTT của Đảng qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI năm 1986 đến Đại hội XII năm 2015).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa yêu cầu khách quan của HNQT với năng lực đáp ứng thực tế của hệ thống CTTT; so sánh các giai đoạn phát triển và kinh nghiệm quốc tế (Liên Xô, Trung Quốc).
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (các khóa VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII).
- Báo cáo tổng kết thực tế của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, các bộ, ban, ngành, các tỉnh ủy, thành ủy.
- Các tài liệu kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh và các công trình khoa học chuyên ngành chính trị học, tuyên giáo học trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương nội dung (gồm 8 tiết). Dưới đây là nội dung chi tiết theo văn bản:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai mảng lớn:
- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Khảo cứu các công trình nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản tại Liên Xô và Trung Quốc. Tổng hợp các luận điểm kinh điển của V.I. Lênin trong tác phẩm "Làm gì?" về xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên truyền; C. Mác và Ph. Ăngghen trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" về mục tiêu xóa bỏ tư hữu và tập hợp quần chúng vô sản; M. Calinin và V. Cruchetxki về khía cạnh tâm lý học, giáo dục học cộng sản. Đi sâu phân tích các bài học của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa thông qua các tác phẩm của Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình, Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi, nhấn mạnh yêu cầu không để khoảng trống trên trận địa tư tưởng và thiết lập cơ chế phản hồi dư luận.
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Phân loại các nghiên cứu trong nước theo 4 nhóm vấn đề: (1) Vị trí, vai trò của CTTT (Đào Duy Tùng, Lương Khắc Hiếu, Trương Minh Tuấn, Phạm Tất Thắng); (2) Thực trạng CTTT trong HNQT (Ban Tuyên giáo Trung ương, Lê Hồng Anh); (3) Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới CTTT (Hà Học Hợi, Trần Thị Anh Đào, hội thảo Tỉnh ủy Quảng Ninh); (4) Giải pháp nâng cao hiệu quả CTTT và thông tin đối ngoại (Ban Đối ngoại Trung ương, Lê Hồng Anh).
- Xác định 3 nhóm vấn đề luận án tập trung giải quyết: Định vị khái niệm CTTT từ góc độ chính trị học và phương thức cầm quyền; phân tích thực trạng CTTT giai đoạn 2007 - 2015; xác định hệ thống quan điểm, giải pháp đổi mới CTTT đáp ứng yêu cầu HNQT.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về công tác tuyên truyền của Đảng trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết của đề tài qua 4 nội dung chính:
- Lý luận chung về CTTT và CTTT của Đảng: Phân tích nguồn gốc thuật ngữ "propaganda", định nghĩa CTTT là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng, đường lối trong quần chúng nhằm xây dựng thế giới quan và niềm tin. Trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyên truyền: là đem việc gì đó cho "dân biết, dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm" dựa trên nguyên tắc "tôn trọng sự thực". Cấu trúc CTTT của Đảng gồm: chủ thể (các cấp ủy, cơ quan tuyên giáo, cán bộ đảng viên); khách thể (cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế); nội dung và hình thức.
- CTTT với tính cách một phương thức cầm quyền: Luận giải sự chuyển biến vị trí của CTTT khi Đảng trở thành đảng cầm quyền duy nhất. CTTT thực hiện chức năng kép: tuyên truyền chủ trương của Đảng và truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phân tích 3 đặc điểm: tính tiên phong, tính chính thống và tính tổng hợp.
- Tiến trình hình thành đường lối hội nhập quốc tế ở Việt Nam: Khái quát bước phát triển tư duy đối ngoại từ Đại hội VI (1986), Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (1988), Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992), Đại hội VIII, IX ("Việt Nam sẵn sàng là bạn..."), Đại hội X ("Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác"), Đại hội XI (chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện) đến Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XII.
- Ảnh hưởng và yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng:
- Thuận lợi và cơ hội: Tạo nhu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng, phương thức tuyên truyền đa tuyến (từ dưới lên, từ ngoài vào); cơ hội nâng cao chất lượng cán bộ và cơ sở vật chất.
- Nguy cơ và thách thức: Nguy cơ chệch hướng tư tưởng, tụt hậu thông tin; áp lực cạnh tranh thông tin; thách thức giữ vững tính đảng; sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu "nhân quyền cao hơn chủ quyền".
- Yêu cầu đổi mới: Đòi hỏi CTTT phải giữ vị trí tiên phong, định hướng dư luận, phản ánh toàn diện cả cơ hội lẫn thách thức của HNQT, mở rộng phạm vi đối tượng và đổi mới nội dung, phương thức thực hiện.
Chương 3: Thực trạng công tác tuyên truyền của Đảng trong điều kiện hội nhập quốc tế (Giai đoạn 2007 - 2015)
(Xác lập theo cấu trúc và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài)
- Đánh giá thành tựu CTTT của Đảng từ khi gia nhập WTO năm 2007 đến năm 2015 trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, ANQP và đối ngoại.
- Phân tích những hạn chế, bất cập: tính chất thông tin một chiều, sự chậm trễ trong xử lý khủng hoảng thông tin mạng, sự lúng túng trong đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, bất cập về tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực tuyên giáo.
- Đúc kết các nguyên nhân (khách quan, chủ quan) và các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo CTTT.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
(Xác lập theo cấu trúc và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài)
- Xác định mục tiêu, phương hướng và các quan điểm chỉ đạo về đổi mới CTTT trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện HNQT.
- Đề xuất hệ thống nhóm giải pháp:
- Đổi mới nội dung CTTT theo hướng thiết thực, đa dạng, cân bằng giữa thời cơ và thách thức của HNQT.
- Đổi mới hình thức, phương thức tuyên truyền: chuyển từ truyền thông đơn tuyến sang truyền thông tương tác, đa chiều, phát huy đối thoại dân chủ và tận dụng truyền thông hiện đại, internet.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy tuyên giáo tinh gọn, chuyên nghiệp; nâng cao năng lực, phẩm chất, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ tuyên truyền.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tuyên truyền và thông tin đối ngoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định năm đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Bổ sung, phát triển lý luận: Luận giải và bổ sung một số vấn đề lý luận về CTTT và đổi mới CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Chính trị học.
- Xác lập nội hàm khái niệm CTTT như một phương thức cầm quyền: Làm rõ nội hàm CTTT của Đảng với tính cách là một phương thức cầm quyền cốt lõi, đồng thời chỉ ra ba đặc điểm bản chất: tính tiên phong, tính chính thống và tính tổng hợp.
- Làm rõ hệ thống yêu cầu của HNQT đối với CTTT: Phân tích những đòi hỏi mới, toàn diện của bối cảnh HNQT đối với sự chuyển dịch về vai trò, phạm vi, nội dung và phương thức của CTTT.
- Đánh giá thực trạng CTTT giai đoạn 2007 - 2015: Khảo sát và đánh giá thực trạng CTTT theo các tiêu chí về chủ thể, khách thể, đối tượng, phạm vi, mức độ và hiệu quả thực tế; chỉ ra nguyên nhân và vấn đề đặt ra.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp khả thi: Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới CTTT của Đảng, đáp ứng các yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế hiện nay và những năm tiếp theo.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đổi mới tư duy CTTT: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa thuyết phục lý luận và minh chứng bằng thực tiễn sinh động; thực hiện phương châm "Đảng làm, dân theo" và "Dân nói, Đảng nghe".
- Đổi mới cơ chế cung cấp và định hướng thông tin: Xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, chủ động cung cấp thông tin chính thống để làm chủ không gian truyền thông, khắc phục tình trạng chậm trễ định hướng trước các thông tin xấu độc.
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn sắc bén, tinh thông nghiệp vụ truyền thông và ngoại ngữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phạm vi thời gian, luận án tập trung khảo sát dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2007 (khi Việt Nam gia nhập WTO) đến năm 2015 (thời điểm chuẩn bị Đại hội XII), do đó chưa bao quát được các biến động quốc tế và công nghệ truyền thông sau năm 2015.
- Về phạm vi không gian, việc khảo sát thực tế mới dừng lại ở các cơ quan Trung ương (Ban Tuyên giáo Trung ương, các bộ, ngành, báo đài) và một số địa phương đại diện cho các vùng miền, chưa thể bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu CTTT của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của mạng xã hội xuyên biên giới.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa CTTT đối nội và thông tin đối ngoại trong các tình huống khủng hoảng truyền thông quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nhà hoạch định chính sách và cơ quan lãnh đạo: Cung cấp luận cứ khoa học - thực tiễn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Tuyên giáo các cấp trong việc xây dựng chủ trương, nghị quyết, chỉ đạo và triển khai CTTT thời kỳ đẩy mạnh HNQT.
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung lý thuyết chính trị học về phương thức cầm quyền của Đảng, cấu trúc CTTT và phương pháp tiếp cận đánh giá công tác tư tưởng.
- Giảng viên và cơ sở đào tạo lý luận: Là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy các môn Khoa học Chính trị, Chính trị học, Khoa học Tuyên truyền, Xây dựng Đảng tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các trường đại học, cao đẳng.
Câu hỏi thường gặp
1. Dưới góc độ chính trị học, công tác tuyên truyền của Đảng cầm quyền được định nghĩa như thế nào?
Theo luận án, CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền không chỉ đơn thuần là truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là việc truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước (sự thể chế hóa các nghị quyết của Đảng) đến quần chúng nhân dân nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính trị và nâng cao hiệu lực quản lý xã hội.
2. Ba đặc điểm cơ bản của CTTT của Đảng với tư cách là phương thức cầm quyền gồm những gì?
Văn bản xác định ba đặc điểm bản chất:
- Tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng): Thể hiện ở tính khoa học, khách quan, trung thực, chính đáng, chủ động, kịp thời và tính dự báo vượt trước.
- Tính chính thống: Thể hiện ở tính đại diện, hợp pháp, công khai, trách nhiệm, vận hành trong khuôn khổ quy định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
- Tính tổng hợp: Thực hiện bao quát trên mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường đến an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
3. Những hạn chế chủ quan nổi bật của CTTT của Đảng về hội nhập quốc tế là gì?
Các hạn chế chủ quan gồm: nội dung tuyên truyền còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật; phương pháp cơ bản vẫn mang tính một chiều, áp đặt, giáo điều, ít đối thoại dân chủ; định hướng thông tin chậm để thông tin xấu lan tràn; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái còn bị động; phương tiện kỹ thuật lạc hậu; bộ máy chưa tinh gọn; cán bộ còn hạn chế về năng lực và trình độ công nghệ thông tin.
4. Bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương châm tuyên truyền như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng trước đây CTTT chỉ coi trọng một chiều "Đảng nói, dân tin", nhưng trong bối cảnh HNQT hiện nay phải chuyển dịch và chú trọng sang phương châm hai chiều: "Đảng làm, dân theo" (chứng minh lý luận bằng thực tiễn sinh động) và "Dân nói, Đảng nghe" (lắng nghe, tiếp thu ý kiến phản hồi từ nhân dân).
5. Khung thời gian và không gian nghiên cứu cụ thể của luận án được xác định ra sao?
- Khung thời gian: Từ năm 2007 (thời điểm Việt Nam gia nhập WTO) đến năm 2015.
- Khung không gian: Ban Tuyên giáo Trung ương, một số bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan báo chí, đài truyền hình Trung ương và Ban Tuyên giáo một số tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền trên cả nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Chính trị học, định vị CTTT như một phương thức cầm quyền cốt lõi của Đảng. Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, làm rõ cơ sở lý luận về CTTT trong điều kiện hội nhập, đồng thời phân tích những tác động đa chiều của bối cảnh quốc tế đối với công tác tư tưởng. Các luận điểm và hệ thống giải pháp mà luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đổi mới hoạt động tuyên giáo giai đoạn 2007 - 2015 và những năm tiếp theo.