Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản cầm quyền 1. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong điều kiện Đảng cầm quyền. Tính tất yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong lịch sử phát triển của loài người, khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp, có mâu thuẫn về lợi ích giai cấp là có đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh giai cấp phát triển theo quy luật từ hình thức thấp đến hình thức cao, từ tự phát đến tự giác; trong đó đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh cao nhất, nó giải quyết vấn đề quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào. Lịch sử đấu tranh giai cấp đã chứng minh rằng, đấu tranh giai cấp phải phát triển đến trình độ cao của đấu tranh giai cấp, các đảng chính trị mới có điều kiện ra đời. Sự xuất hiện của đảng chính trị nói lên sự trưởng thành của các cuộc đấu tranh giai cấp. Lênin chỉ rõ: "Cuộc đấu tranh của các chính đảng là biểu hiện hoàn chỉnh, đầy đủ và rõ rệt nhất của cuộc đấu tranh chính trị của các giai cấp" [20, tr.
Trong thời đại ngày nay, vai trò của đảng chính trị trong đời sống chính trị, trong các hệ thống chính trị là hết sức quan trọng và nổi bật. Nó là thiết chế tổ chức gồm những đại biểu tiêu biểu nhất của một giai cấp để thực hiện lợi ích của giai cấp đó. Đảng chính trị cũng đại diện cho một hệ tư tưởng nhất định. Chính hệ tư tưởng đó quy định những nguyên tắc chủ đạo chiến lược, quy định xây dựng về mặt tổ chức và hoạt động thực tiễn của đảng chính trị.
Đảng chính trị là hình thức cao nhất của tổ chức giai cấp. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản (và toàn thể những người lao động) chống giai cấp tư sản (cũng như quyền lực liên hợp của giai cấp hữu sản) phát 7 triển từ tự phát sang tự giác, sự hình thành chính đảng của giai cấp vô sản (Đảng Cộng sản) và vai trò lãnh đạo của nó là dấu mốc sự trưởng thành của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giai cấp.Lênin khẳng định: "Chỉ có Đảng Cộng sản… mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản" [17, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: làm cách mệnh phải làm cho dân giác ngộ, phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân, sức cách mệnh phải tập trung; vậy nên: "Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy" [25, tr.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp vô sản và nhân dân lao động lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản. Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo chuyên chính vô sản. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong thời kỳ chuyên chính vô sản, trong công cuộc xây dựng CNXH là một tất yếu.Lênin nhấn mạnh rằng: Chỉ có chính đảng của giai cấp công nhân, tức là Đảng Cộng sản, mới có thể tập hợp, giáo dục, tổ chức đội tiền phong của giai cấp vô sản và của tất cả quần chúng lao động, chỉ có đội tiền phong ấy mới có thể chống lại nổi những sự dao động tiểu tư sản không thể tránh khỏi của những quần chúng đó, chống lại nổi những truyền thống và những sự tái phạm không thể tránh khỏi của bệnh hẹp hòi phường hội hoặc của những thiến kiến phường hội trong giai cấp vô sản, và lãnh đạo tất cả những hành động liên hợp của toàn bộ giai cấp vô sản, tức là lãnh đạo giai cấp đó về mặt chính trị, và thông qua đó, mà lãnh đạo tất cả quần chúng lao động. Nếu không thế, thì không thể thực hiện chuyên chính vô sản [21, tr.
8 Lịch sử gần một thế kỷ của CNXH hiện thực trên thế giới đã khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền cả về lý luận và thực tiễn. Thực tiễn đã cho những bài học về nhận thức và thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị XHCN. ở đâu, trong thời đại nào năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được tăng cường thì cách mạng thắng lợi, giành được nhiều thành tựu. Trái lại, khi xem nhẹ, phủ định sự lãnh đạo của Đảng hoặc vai trò lãnh đạo của Đảng bị suy giảm thì cách mạng gặp khó khăn, thụt lùi, thậm chí phải trả giá đắt.
Sự sụp đổ của hệ thống chính trị ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô có nguyên nhân từ sự suy giảm, xem nhẹ đi đến phủ nhận, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua hơn 15 năm, đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng. Tổng kết 15 đổi mới (1986-2000), Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên 4 bài học chủ yếu, trong đó khẳng định: "Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới" [9, tr. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, nhân dân các bộ tộc Lào đã giành được thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, lập nên nước CHDCND Lào (1975).
Đảng NDCM Lào trở thành Đảng cầm quyền, là "hạt nhân lãnh đạo" toàn diện hệ thống chính trị đưa đất nước phát triển theo con đường xây dựng CNXH, thực hiện mục tiêu "Hoà bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng". Sự nghiệp đổi mới được khởi xướng từ Đại hội IV của Đảng (1986) đã đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, tạo đà phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Những thành tựu trong quá trình đổi mới đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng NDCM Lào đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Khái niệm "đảng cầm quyền".
9 Khái niệm "đảng cầm quyền" là một khái niệm cơ bản của khoa học chính trị, nó liên quan trực tiếp tới quyền lực chính trị và phương thức tổ chức thực hiện quyền lực đối với Nhà nước. Khái niệm "đảng cầm quyền" xác định một đảng đại diện lợi ích cho một giai cấp nhất định nắm giữ quyền lực Nhà nước, điều hành hoạt động quản lý xã hội phục vụ lợi ích giai cấp mình. Theo Đại từ điển tiếng Việt, "cầm quyền" có nghĩa là nắm giữ "chính quyền" [40, tr. Từ đó "đảng cầm quyền" được xác định là "đảng chính trị có số đảng viên chiếm đa số trong Quốc hội, là lực lượng chi phối toàn bộ phương hướng hoạt động, chính sách của chính quyền, giữ các cương vị chủ chốt của bộ máy quyền lực Nhà nước" [36, tr.
Như vậy, đảng cầm quyền là lực lượng lãnh đạo, chi phối Nhà nước và xã hội để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp mà đảng đó là người đại diện. Dưới các hình thức khác nhau, các Nhà nước trong xã hội hiện đại đều đóng vai trò là thiết chế tổ chức để thực hiện quan điểm chính trị của đảng cầm quyền. Trong những năm gần đây đã có cuộc tranh luận về vấn đề nên sử dụng khái niệm "đảng cầm quyền" hay "đảng lãnh đạo chính quyền" (Đảng lãnh đạo Nhà nước), trong đó chủ yếu có hai loại ý kiến. Loại thứ nhất cho rằng không nên dùng khái niệm "Đảng cầm quyền" mà dùng khái niệm "Đảng lãnh đạo chính quyền".
Những người theo quan điểm này cho rằng, việc sử dụng khái niệm "đảng cầm quyền" sẽ dẫn đến sự ngộ nhận về vai trò của Đảng: Đảng sẽ chuyên quyền, độc đoán, ôm đồm, bao biện mọi công việc của chính quyền; chính quyền chỉ là công cụ của Đảng, bị động và dẫn đến "hư quyền"; còn Đảng sẽ trở thành "Đảng trị". Loại thứ hai cho rằng dùng khái niệm "Đảng cầm quyền" là đúng đắn. Khái niệm "đảng cầm quyền" phản ánh đúng thực chất vai trò quan trọng 10 quyết định của Đảng đối với sự phát triển của xã hội khi đã giành được chính quyền Nhà nước. Khái niệm "đảng cầm quyền" có nội dung rộng lớn và khái quát hơn khái niệm "Đảng lãnh đạo chính quyền".
Thực tế cho thấy muốn lãnh đạo Nhà nước trước hết Đảng phải có quyền, phải nắm được chính quyền. Lãnh đạo (chính quyền) và cầm quyền không loại trừ nhau, mà có quan hệ mật thiết với nhau: trong cầm quyền có cả lãnh đạo, không lãnh đạo chính quyền thì Đảng không cầm quyền. Nhờ cầm quyền mà đường lối, chủ trương của Đảng mới được thể chế hoá thành pháp luật và chính sách mang tính pháp lý đối với mọi công dân trong xã hội. Hơn nữa, nói "đảng cầm quyền" cũng xác định trách nhiệm của Đảng đối với những thành tựu và cả những yếu kém, khuyết điểm của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tình trạng Đảng bao biện, lấn át chính quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước chưa được phân định rõ ràng là do "Lý luận của chúng ta về Đảng và Nhà nước còn bất cập, còn nhiều điểm chưa sáng tỏ, chưa tìm ra được những hình thức hợp lý và cơ chế đúng đắn cho việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, chứ không phải bản thân khái niệm "đảng cầm quyền" sinh ra tình trạng trên" [34, tr. Khái niệm "đảng cầm quyền" không phải chỉ đến khi giai cấp vô sản giành chính quyền mới xuất hiện, mà nó có từ trong CNTB. ở các nước tư bản, các đảng tư sản công khai tuyên bố cầm quyền và thực sự đã cầm quyền. Cho dù ở các nước đó theo chế độ đa đảng hay một đảng thì "đảng cầm quyền" vẫn là một thực tế đã và đang tồn tại trong thể chế chính trị tư sản.
Đối với Lào cũng như ở Việt Nam, "đảng cầm quyền" là sự kiện bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến giai đoạn cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sang cách mạng XHCN. Đây là giai đoạn mà chính quyền thuộc về nhân dân, Nhà nước do nhân dân xây dựng và uỷ quyền dưới sự lãnh 11 đạo của Đảng, sử dụng quyền lực Nhà nước để trấn áp mọi kẻ thù của nhân dân và tổ chức xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN.