Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU LIEN QUAN DEN DE TÀI Hồ Chi Minh - con người, sự nghiệp va tư tưởng là đề tài rất lớn thu hút nhiều nhà khoa học và hoạt động chính trị trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Sau dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) và đặc biệt là sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khăng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng” thì việc nghiên cứu về Hồ Chí nh đã được tiến hành một cách tích cực vả sâu rộng hơn. Hồ Chí Minh vừa là một nhà văn hóa lớn, vừa là một nhà hoạt động ngoại giao kiệt xuất, do đó, những đóng góp của Người ở cả hai lĩnh vực này là rất lớn. Di sản ngoại giao và văn hóa của Hồ Chí Minh đã được Dang Cộng sản Việt Nam vận dụng thành công trong việc xây dựng đường lối chiến lược và các sách lược quan trọng của sự nghiệp ngoại giao.
Chính vì vậy, vấn đề này trở thành đề tài quan tâm của các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu. Liên quan đến nội dung đề tài “Ngoại giao văn hóa Hô Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tẾ”, tác giả luận án khảo sát tình hình nghiên cứu ở một số lĩnh vực chủ yếu nhất: 1. Tình hình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa và ngoại giao văn hóa Hồ Chí Minh 1. Tình hình nghiên cứu về ngoại giao văn hóa Ngoại giao văn hóa xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử ngoại giao của nhân loại.
Tuy nhiên, trong vài thập niên trở lại đây, ngoại giao văn hóa mới được xem là một trong những lĩnh vực ngoại giao quan trọng trong hoạt động ngoại giao của mỗi quốc gia. Mặc dù các hoạt động mang tính chất ngoại giao văn hóa với nhiều hình thức và nội dung phong phú đã được các quốc gia tiễn hành trong chính sách đối ngoại của mình nhưng việc nghiên cứu lý luận về ngoại giao văn hóa vẫn là đề tài tranh cãi của nhiều nhà khoa học ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, nhất là nội hàm và phương thức thé hiện. Trên thé giới, nhắc tới ngoại giao văn hóa, người ta nghĩ ngay đến một hệ thống lý thuyết được coi là cơ sở quan trọng cho việc hình thành lý luận về ngoại giao văn hóa, tiêu biểu là thuyết “xung đột văn minh” của Samuel P. Hungtington, thuyết “sức mạnh mềm” của Joseph S.
Nye, thuyết “ngoại giao đa tuyến” của John W. MeDonal và Louise Diamond. Thuyết xung đột văn minh của Samuel P. Hungtington: Tác giả cho rằng, thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, chính trị thế giới đang được tiến hành tô chức lại theo ranh giới văn minh.
Nguồn gốc của các cuộc xung đột trên thế giới sẽ không còn là hệ tư tưởng hay kinh tế, mà nguyên nhân bao trùm mọi sự chia rẽ hay xung đột của loài người chính là văn hóa. Đặc tính chung và sự khác biệt của văn hóa ảnh hưởng tới các quốc gia, những dân tộc và quốc gia có nền văn hóa tương đồng đang tụ hợp lai, những dân tộc và nền văn hóa khác đang chia tách ra. Các tác phẩm tiêu biểu của ông là “Sw xưng đột giữa các nên văn minh”, “Các loại quy phạm của thé giới sau chiến tranh lạnh. Nếu như không phải là văn minh thì sẽ là cai gì?”, “Xung đột của văn minh và việc xây dung lại trật tự thé giới ”.
Lý thuyết về sức mạnh mêm: Joseph S. Nye được coi là người khởi xướng ra lý thuyết sức mạnh mềm qua một loạt các tác pham như “Nước Mỹ định một mình làm bá chủ thế giới”, “Xác định lại ranh giới lợi ích quốc gia”, “Sc mạnh mém: phương tiện dé đạt được thành công trong chính trị thé giới”. Ông đưa ra quan điểm cần phải phân biệt “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”. “Sức mạnh cứng” của mỗi quốc gia được thê hiện ở khả năng kinh tế, sức mạnh quân sự và sự tập hợp.
“Sức mạnh mềm” bao gồm các yếu tố: văn hóa, các giá trị và chính sách của mỗi quốc gia. Nếu như sức mạnh cứng chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự và kinh tế, quyền lực được thực hiện chủ yếu bang cách de dọa về quân sự và lôi cuốn về kinh tế thì sức mạnh mềm lại đạt được những gì mình muốn bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác, và qua đó khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn. Trong sức mạnh mềm, Joseph S. Nye coi văn hóa là yếu tố quan trọng, từ đó khang định vai trò quan trọng của ngoại giao văn hóa.
Một tác phẩm vận dụng lý thuyết “sức mạnh mềm” dé khang định và làm rõ hơn tác dụng của việc sử dụng sức mạnh mềm đó là “Sức mạnh mém: Sự thống trị toàn cau của phim ảnh, nhạc thịnh hành, truyền hình va quán ăn nhanh của Mỹ” của Matthen Fraster. Cuốn sách này đã phân tích rõ sự hình thành và phát triển của “sức mạnh mềm” của Mỹ và sự ảnh hưởng của nó trong ngoai giao quốc tế là từ bốn yếu tố là phim anh, âm nhạc thịnh hành, truyền hình và quán ăn nhanh. Thuyết “ngoại giao đa tuyến” của John W. McDonal và Louise Diamond: Từ quan niệm về ngoại giao 2 tuyến, John W.
MeDonal đã mở rộng thành ngoại giao 5 tuyến và sau khi kết hợp với Louise Diamond, hai ông đã đưa ra quan niệm ngoại giao 9 tuyến. Thuật ngữ “ngoại giao đa tuyến” xuất hiện từ đó. 9 tuyến cơ bản trong thuyết “ngoại giao đa tuyến” bao gồm: chính phủ; chuyên gia giải quyết xung đột; doanh nhân; các công dân với tư cách cá nhân; nghiên cứu, đào tạo và giáo dục; hoạt động tuyên truyền tích cực; tôn giáo; tài trợ; công luận/truyền thông. Trong cách phân loại trên, có 4 tuyến thuộc về ngoại giao văn hóa là: nghiên cứu, đào tạo và giáo dục; hoạt động tuyên truyền tích cực; tôn giáo; công luận/truyền thông.
Các ông coi đây là những bộ phận không thể tách rời của một nền ngoại giao mới - ngoại giao đa tuyến, tương hợp với bối cảnh thế giới đang được toàn cầu hóa. Các thuyết trên mặc dù không bàn luận trực tiếp đến ngoại giao văn hóa nhưng lại là cơ sở lý luận quan trọng khi chúng nhắc tới văn hóa và vai trò của văn hóa trong quan hệ đối ngoại của các quốc gia. Văn hóa ngày cảng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột, là thành tố quan trọng tạo nên “sức mạnh mềm” hay là những yếu tô cấu thành nên ngoại giao đa tuyến - hình thức đặc trưng của ngoại giao hiện dai. Liên quan đến lý luận về ngoại giao văn hóa, các học giả trên thế giới còn ban nhiều đến vai trò của văn hóa trong các quan hệ quốc tế.
Herano Kenichino trong tác phẩm “Chính tri học toàn cẩu ” cho rằng: Trong giao lưu giữa các nước, ngoài quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế và quan hệ pháp luật ra còn có quan hệ văn hóa, hơn nữa quan hệ văn hóa không chỉ gián tiếp mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới đời sống và lỗi sống của mọi người [95, tr. Còn Louis Doro trong cuốn “Quan hệ quốc tế văn hóa” thì khang định hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại ngày càng hướng tới trung tâm sân khấu giao lưu quốc tế, lĩnh vực hoạt động ngoại giao nhà nước được mở rộng không còn giới hạn ở lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật va quan sự nữa mà di sâu vào lĩnh vực văn hóa [95, tr. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của văn hóa đối với hoạt động ngoại giao, ngày 28/1 1/2000, chính phủ Hoa Kỳ đã tô chức hội thảo với chủ đề “Văn hóa và Ngoại giao”. Tại đây, ngoại trưởng Mỹ Albright đã phát biểu rằng, lâu nay, người ta vẫn cho rằng, văn hóa không liên quan gì đến ngoại giao.
Thành thử nước Mỹ đã không tận dụng được tài nguyên văn hóa của mình một cách tối ưu. Bởi vậy, một mặt, Mỹ nên tăng cường cho lĩnh vực giao lưu văn hóa, giới thiệu hiệu quả hơn nữa về văn hóa Mỹ cho thế giới. Mặt khác, văn hóa vốn thâm thấu vảo tất cả những sự vụ quốc tế, thế nên, nếu chúng ta hiểu biết càng nhiều nền văn hóa thì chính sách ngoại giao của chúng ta càng thành công [95, tr. Quan điểm của Chính phủ Mỹ trong Báo cáo của Ủy ban Cố vấn về Ngoại giao văn hóa năm 2005 “Cultural Diplomacy - The Linchpin of Public Diplomacy” quan niệm: ngoại giao van hóa theo nghĩa hep va mang tính chuyên nghiệp là bộ phan quan trọng của ngoại giao công chúng.
Ngoại giao văn hóa có vai trò quan trọng trọng việc kiến tạo “cơ sở lòng tin” và xóa bỏ ngờ vực từ phía nhân dân các nước khác; biểu đạt, khẳng định các giá trị Mỹ, thiết lập quan hệ với nhân dân các nước; tạo lập quan hệ với các cá nhân có ảnh hưởng: được sử dụng với tu cách là phương tiện mềm dẻo và kha di dé tiếp cận với các quốc gia đang có mối quan hệ ngoại giao căng thăng hoặc chưa có quan hệ ngoại giao; là biện pháp duy nhất dé có thê tiếp xúc từ giới trẻ cho đến người bình dân và quảng đại quan chúng mà không gặp trở ngại đáng ké về ngôn ngữ; làm sống dậy những cuộc thảo luận về văn hóa trong và ngoai nước theo tỉnh thần cởi mở và khoan dung. Từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm đây mạnh hơn nữa hoạt động ngoại giao văn hóa, phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu khác của chính phủ Mỹ [195]. Bàn về vai trò ngoại giao văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa phải kế đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mêm của Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cau hóa ” [95] của tác giả Banh Tân Lương. Cuôn sách không chỉ giải quyét các vân đê lý luận vê ngoại giao văn hóa mà còn dua ra van đề phải vận dụng và triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa của Trung Quốc như thé nào dé đem lại lợi ích cho văn hóa quốc gia va an ninh văn hóa của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa.