Tổng quan luận án

Chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam giai đoạn 2009-2020 là đối tượng nghiên cứu của luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế do nghiên cứu sinh Lê Thu Trang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới sau Chiến tranh Lạnh có nhiều biến đổi phức tạp, khi yếu tố văn hóa và sự đa dạng văn hóa ngày càng trở thành công cụ của các phương thức hoạt động chính trị mới nhằm thúc đẩy quan hệ giữa các thể chế, quốc gia và châu lục.

Về tính cấp thiết, sự chuyển dịch cán cân quyền lực và sự tái khẳng định giá trị văn hóa của các nền văn minh phi phương Tây đặt ra yêu cầu thúc đẩy sự hiểu biết quốc tế. Nhiều quốc gia trên thế giới đã mở rộng mạng lưới cơ sở văn hóa ở nước ngoài như Pháp với 834 trụ sở Alliances Françaises, Trung Quốc với 525 Viện Khổng Tử (tính đến năm 2017), hay Vương quốc Anh với British Council tại hơn 100 quốc gia. Tại Việt Nam, nhận thức về vai trò của văn hóa đối ngoại có bước chuyển biến mang tính dấu mốc từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 (năm 2006) khi xác định ngoại giao văn hóa là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao hiện đại (bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế). Năm 2009 được lựa chọn là "Năm Ngoại giao Văn hoá", tiếp nối bằng việc ban hành Chiến lược Ngoại giao văn hoá đến năm 2020 (năm 2011) và Chiến lược Văn hoá đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (năm 2015).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù ngoại giao văn hóa đã được định hình thành chủ trương lớn, nguồn tài liệu học thuật trong nước nghiên cứu về vấn đề này còn phân tán, chủ yếu dừng lại ở việc mô tả các hoạt động sự kiện riêng lẻ, thiếu vắng các công trình phân tích có hệ thống trên giác độ chu trình chính sách để đánh giá toàn diện thành tựu và hạn chế trong giai đoạn triển khai 2009-2020.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

  • Mục tiêu chung: Làm rõ chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam giai đoạn 2009-2020 để từ đó đưa ra các kiến nghị cải tiến hoạt động ngoại giao văn hoá của Việt Nam.
  • Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    1. Làm rõ nội hàm khái niệm ngoại giao văn hoá để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
    2. Phân tích các nhân tố tác động làm cơ sở cho chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam 2009-2020.
    3. Phân tích nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam.
    4. Đánh giá thành tựu, hạn chế từ đó đưa ra kiến nghị chính sách cho Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách và hoạt động ngoại giao văn hoá Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2009-2020, bắt đầu từ mốc "Năm Ngoại giao văn hoá 2009" đến thời điểm tổng kết hai chiến lược văn hóa đối ngoại cấp quốc gia vào năm 2020.
  • Phạm vi không gian: Không gian trong nước và các quốc gia trên thế giới có triển khai các hoạt động ngoại giao văn hoá của Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm nội dung chính:

Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình lý luận quốc tế về văn hóa, quan hệ quốc tế, quyền lực mềm và ngoại giao văn hóa. Samuel P. Huntington (2007) trong Sự va chạm của các nền văn minh khẳng định văn hóa là yếu tố cốt lõi định hình hành vi và ứng xử của các chính phủ trong thế giới hậu Chiến tranh Lạnh. Joseph S. Nye Jr. (1990, 2002, 2004, 2008, 2009) định hình khái niệm quyền lực mềm, xác định văn hóa là một trong ba nguồn cội chính tạo nên sức hấp dẫn phi cưỡng bức của một quốc gia. Gienow-Hecht J. (2004, 2010) và Laos N. (2011) phân tích nền tảng chuẩn mực và mô hình ngoại giao văn hóa tại các khu vực. Công trình Searching for Cultural Diplomacy (Gienow-Hecht và Donfried, 2010) tổng kết ba hướng tiếp cận khái niệm trong thế kỷ XX: trao đổi văn hóa để hiểu biết lẫn nhau, sử dụng nhân tố văn hóa gây ảnh hưởng, và xem ngoại giao văn hóa là quá trình chính trị văn hóa quốc tế phục vụ lợi ích quốc gia. Báo cáo Cultural Diplomacy: The Linchpin of Public Diplomacy (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2005) cùng nghiên cứu của các tác giả như Seib P. (2009), Osgood K. (2010), Ryan E. (2016), Snow N. (2008), Snenshine (2013), Schneider C. P. (2004), Cooper (2013), Waller J. M. (2009) và Hayden C. (2012) làm rõ sự giao thoa cũng như ranh giới giữa ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và quyền lực mềm.

Nhóm thứ hai tập trung vào các yếu tố cấu thành và bản sắc văn hóa Việt Nam. Các học giả như Trần Văn Giàu (1980) với Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (1996) với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình, Phan Ngọc (1998) với Bản sắc Văn hóa Việt Nam, Đào Duy Anh (1978), Ngô Đức Thịnh (2007) và học giả Claude Palazzoli đã phân tích hệ giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa dân gian, tính cộng đồng làng xã và chủ nghĩa yêu nước của người Việt. Văn kiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) và đề tài nghiên cứu của Bộ Ngoại giao do Phạm Cao Phong (2012) chủ trì đã cụ thể hóa hệ giá trị dân tộc phục vụ đối ngoại.

Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu về thực tiễn và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam. Tiêu biểu là các công trình của Phạm Sanh Châu (2008, 2012), Vũ Anh Minh (2014), Nguyễn Dy Niên (2008) về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Phạm Thái Việt (2012) với Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng, Trần Thị Thu Hà (2012), Nguyễn Thị Thùy Yên (2016) về ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN, và Nguyễn Văn Hải (2010).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn tài liệu quốc tế tập trung vào các cường quốc phương Tây hoặc Đông Á (Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc), ít chú trọng đến mô hình của các quốc gia đang phát triển. Trong khi đó, các tài liệu trong nước chủ yếu ghi chép tản mạn về sự kiện hoặc xem ngoại giao văn hóa là một phần của văn hóa đối ngoại. Luận án định vị nghiên cứu của mình là công trình tiếp cận có hệ thống theo lý thuyết phân tích chính sách, đánh giá toàn diện chu trình hoạch định, triển khai và kết quả thực tế của chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án hệ thống hóa các định nghĩa về văn hóa theo hai hướng: hướng dựa trên sản phẩm cụ thể (tiêu biểu là định nghĩa phức hợp của E. B. Tylor năm 1939 và năm thuật ngữ của Blumenthal năm 1940) và hướng tiếp cận thao tác dựa trên phương thức hành vi (Lundberg). Tác giả tổng hợp văn hóa thành bốn đặc tính cơ bản: do con người sáng tạo, biểu hiện qua giá trị vật chất và tinh thần, có tính lịch sử - thích nghi, và mang tính đại diện cho cộng đồng.

Về khái niệm ngoại giao văn hóa, luận án kết hợp định nghĩa ngoại giao hiện đại (được mở rộng về chủ thể và nội dung) với công cụ văn hóa. Ngoại giao văn hóa được hiểu là việc nhà nước tổ chức, ủng hộ và bảo trợ việc sử dụng các yếu tố văn hóa nhằm đạt được các mục tiêu chính sách đối nội và đối ngoại (an ninh, phát triển và nâng cao vị thế). Luận án phân tích nội hàm ngoại giao văn hóa Việt Nam qua hình tượng "năm cánh anh đào":

  1. Mở đường cho các hoạt động ngoại giao chính trị và kinh tế.
  2. Tham mưu, đồng hành và tháo gỡ khó khăn, rào cản trong quan hệ quốc tế.
  3. Quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới.
  4. Thúc đẩy tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú văn hóa dân tộc.
  5. Vận động UNESCO công nhận các danh hiệu và giá trị văn hóa của Việt Nam.

Luận án phân biệt rõ ràng giữa ngoại giao công chúng và ngoại giao văn hóa qua bảng tổng hợp:

Tiêu chí so sánh Ngoại giao công chúng Ngoại giao văn hóa
Bản chất Luôn liên quan mật thiết với một mục đích chính trị xác định và nhắm tới những mục tiêu tiên quyết; dùng văn hóa như một phương tiện cho mục tiêu chiến lược. Không nhất thiết phải liên quan tới mục đích chính trị cụ thể nào; bản chất không nhằm đe dọa hay gây tổn hại lợi ích tới bất kỳ quốc gia nào.
Mục tiêu Chủ động liên kết người dân với đất nước bằng cách thu hút họ đến tham quan, học tập, đầu tư hoặc đạt thỏa thuận chính trị. Nỗ lực tạo điều kiện trao đổi, truyền bá văn hóa ra thế giới bằng âm nhạc, nghệ thuật, triết học, hệ giá trị.
Chủ thể thực hiện Ngoài Bộ Ngoại giao còn có sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ (NGO), khu vực tư nhân, truyền thông, các bộ ngành khác. Chủ yếu do nhà nước trực tiếp tổ chức, ủng hộ hoặc bảo trợ.

Phương pháp nghiên cứu được luận án áp dụng bao gồm:

  • Cách tiếp cận phân tích chính sách: Nghiên cứu chính sách ngoại giao văn hóa theo chu trình chính sách gồm ba khâu: cơ sở hoạch định chính sách, nội dung và thực tiễn triển khai, và đánh giá chính sách.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu và trao đổi với các nhà nghiên cứu, cán bộ hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại tại Việt Nam dựa trên bảng câu hỏi mở.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Đi sâu phân tích Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất ở nước ngoài” giai đoạn 2009-2019 do Bộ Ngoại giao chủ trì.
  • Phương pháp lịch sử (lịch đại): Phân tích dữ liệu thứ cấp để theo dõi tiến trình hình thành và phát triển của chính sách ngoại giao văn hóa qua các thời kỳ, đặt trong sự đối chiếu với các quốc gia khác.
  • Các phương pháp logic, so sánh quốc tế và dự báo.

Nguồn tài liệu:

  • Tài liệu sơ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện chính sách như Chiến lược Ngoại giao văn hoá của Việt Nam đến năm 2020 (ban hành năm 2011), Chiến lược Văn hoá đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 (ban hành năm 2015), Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945.
  • Tài liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết công tác ngoại giao văn hóa của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thông tin tư liệu báo chí đối ngoại, các công trình học thuật trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tiến hành khảo cứu và hệ thống hóa toàn bộ các công trình học thuật trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung:

  • Nhóm công trình lý luận quốc tế về vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế, lý thuyết quyền lực mềm của Joseph Nye, khái niệm ngoại giao công chúng và các mô hình ngoại giao văn hóa của Hoa Kỳ, Châu Âu.
  • Nhóm nghiên cứu về các yếu tố cấu thành bản sắc văn hóa Việt Nam, văn hóa dân gian, truyền thống yêu nước và hệ giá trị con người Việt Nam của các tác giả Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc, Ngô Đức Thịnh.
  • Nhóm nghiên cứu về chính sách và thực tiễn ngoại giao văn hóa của Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Chương 1 chỉ ra các hạn chế của tài liệu hiện có và khẳng định tính cần thiết của việc thực hiện một công trình phân tích toàn diện, có hệ thống theo chu trình chính sách đối với giai đoạn 2009-2020.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam

Chương 2 thiết lập khung phân tích lý luận và chỉ ra các nhân tố thực tiễn tác động đến quá trình hình thành chính sách:

  • Về lý luận: Phân tích các khái niệm văn hóa, ngoại giao hiện đại, ngoại giao văn hóa; xác định năm nội hàm ("năm cánh anh đào") và vai trò của ngoại giao văn hóa đối với ba nhóm quốc gia (nước lớn nhằm mở rộng ảnh hưởng; nước bậc trung kết hợp quyền lực mềm và kinh tế; nước nhỏ tập trung vào mục tiêu phát triển). Phân định mối quan hệ tương hỗ giữa ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và quyền lực mềm.
  • Nhân tố bên ngoài: Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển sau Chiến tranh Lạnh; xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa trong bối cảnh truyền thông phát triển mạnh mẽ ("thế giới phẳng"); xu thế đa dạng hóa hoạt động ngoại giao văn hóa của các nước châu Á như Viện Khổng Tử (Trung Quốc), Làn sóng Hallyu (Hàn Quốc), Cool Japan và hỗ trợ ODA tri thức di sản (Nhật Bản), phong trào Yoga/Thiền định (Ấn Độ), quảng bá ẩm thực và Muay Thai (Thái Lan).
  • Nhân tố bên trong: Nền tảng bản sắc văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước, mang tính cộng đồng, trọng tình, ưa hòa hiếu, kết hợp ba lớp văn hóa (bản địa, giao lưu phương Đông, giao lưu phương Tây); truyền thống ngoại giao "hoà hiếu", "nhu viễn", trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh với phương châm "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" và bản sắc "ngoại giao cây tre". Đồng thời, chương này phân tích chính sách phát triển và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Tính đến tháng 5/2023, Việt Nam đã được UNESCO ghi danh 8 Di sản thế giới, 15 Di sản văn hoá phi vật thể, 9 Di sản tư liệu, 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới và 3 Công viên địa chất toàn cầu.

Chương 3: Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam giai đoạn 2009-2020

Chương 3 trình bày sự ra đời của cơ sở pháp lý, nội dung chính sách và phân tích các mảng hoạt động thực tế trong giai đoạn 2009-2020:

  • Sự hình thành cơ sở pháp lý: Phân tích hai văn kiện trọng tâm là Chiến lược Ngoại giao văn hoá đến năm 2020 (phê duyệt năm 2011) và Chiến lược Văn hoá đối ngoại đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (phê duyệt năm 2015).
  • Bốn trụ cột thực tiễn triển khai:
    1. Thúc đẩy hoạt động và nâng cao vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế (đặc biệt là UNESCO).
    2. Quảng bá thông tin, hình ảnh đất nước, con người và tiềm năng văn hóa ra thế giới thông qua các kênh truyền thông đối ngoại.
    3. Mở rộng trao đổi văn hóa, tổ chức các tuần/ngày văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
    4. Đồng tổ chức các sự kiện văn hóa, phối hợp tổ chức các ngày lễ quốc tế và tham gia hợp tác văn hóa đa phương.
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình: Đánh giá quá trình triển khai Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất ở nước ngoài” giai đoạn 2009-2019 do Bộ Ngoại giao chủ trì; phân tích các kết quả đạt được về việc đặt tượng, lập bia tưởng niệm, tổ chức hội thảo quốc tế và xuất bản ấn phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nhiều quốc gia.

Chương 4: Đánh giá, dự báo và khuyến nghị

Chương 4 tổng kết thực trạng và định hướng chính sách cho giai đoạn tiếp theo:

  • Đánh giá thành tựu và hạn chế của ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2009-2020: Nhận diện những kết quả trong việc định vị hình ảnh quốc gia, nâng cao quyền lực mềm và đóng góp cho phát triển kinh tế du lịch; chỉ ra những điểm nghẽn về nguồn lực đầu tư, cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương, và tính chuyên nghiệp trong công tác quảng bá.
  • Ngoại giao văn hóa Việt Nam đến năm 2030: Phân tích xu hướng chuyển đổi số, sự phát triển của công nghiệp văn hóa và ngoại giao số trên toàn cầu; đánh giá bối cảnh cạnh tranh chiến lược và những thuận lợi, khó khăn tác động đến môi trường đối ngoại của Việt Nam.
  • Đề xuất các khuyến nghị chính sách: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, đổi mới phương thức truyền thông đối ngoại, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ngoại giao văn hóa, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực tài chính, và gắn kết chặt chẽ ngoại giao văn hóa với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa từ góc độ quan hệ quốc tế và khoa học chính sách, làm rõ ranh giới khái niệm giữa ngoại giao văn hóa, ngoại giao công chúng và quyền lực mềm trong bối cảnh các nước đang phát triển. Công trình làm sáng tỏ cấu trúc nội hàm "năm cánh anh đào" và khẳng định vị trí nền tảng tinh thần của ngoại giao văn hóa trong thế chân kiềng ba trụ cột ngoại giao Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh tổng thể và tư liệu toàn diện về quá trình thực thi hai chiến lược văn hóa đối ngoại giai đoạn 2009-2020. Nghiên cứu đã đúc rút các bài học kinh nghiệm từ trường hợp Đề án tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài (2009-2019), phân tích rõ những điểm nghẽn về cơ chế vận hành thực tế.

Hệ thống kiến nghị chính sách của luận án tập trung vào các giải pháp:

  • Xây dựng chiến lược ngoại giao văn hóa giai đoạn mới đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định vị thương hiệu quốc gia.
  • Đổi mới nội dung và hình thức quảng bá, kết hợp văn hóa truyền thống với các sản phẩm công nghiệp văn hóa hiện đại và nền tảng số.
  • Tăng cường cơ chế điều phối liên ngành giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bộ ngành liên quan và chính quyền địa phương.
  • Đẩy mạnh đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đối ngoại tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tập trung dữ liệu chủ yếu vào giai đoạn 2009-2020 gắn với hai văn bản chiến lược của thời kỳ này; các dữ liệu thực tế tại một số địa bàn nước ngoài phụ thuộc vào nguồn báo cáo hành chính thứ cấp và điều kiện tiếp cận tư liệu của Bộ Ngoại giao.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ đề tài bao gồm:

  • Đi sâu nghiên cứu tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công nghệ số đối với phương thức triển khai ngoại giao văn hóa số (Digital Cultural Diplomacy).
  • Nghiên cứu chuyên biệt về ngoại giao văn hóa ở cấp độ địa phương và sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước (doanh nghiệp, cộng đồng kiều bào, tổ chức xã hội).
  • Đánh giá định lượng về hiệu quả kinh tế do các danh hiệu di sản UNESCO mang lại cho ngành du lịch và thương mại địa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Quốc tế học, Quản lý văn hóa và Văn hóa học: Tham khảo khung lý thuyết, tổng quan nghiên cứu (Chương 1) và cơ sở phân định khái niệm ngoại giao văn hóa - ngoại giao công chúng - quyền lực mềm (Chương 2).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy về tiến trình hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới.
  • Cán bộ hoạch định và thực thi chính sách tại Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các cơ quan ngoại vụ địa phương: Tham khảo hệ thống đánh giá thực tiễn (Chương 3), bài học từ nghiên cứu trường hợp đề án tôn vinh lãnh tụ, và các khuyến nghị chính sách đến năm 2030 (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Mốc thời gian 2009-2020 được tác giả lựa chọn dựa trên cơ sở nào? Năm 2009 là thời điểm Bộ Ngoại giao phát động "Năm Ngoại giao Văn hoá", đánh dấu bước chuyển biến từ nhận thức sang hành động tập trung. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam ban hành và thực thi hai văn kiện chiến lược nền tảng: Chiến lược Ngoại giao văn hoá đến năm 2020 (phê duyệt năm 2011) và Chiến lược Văn hoá đối ngoại đến năm 2020 tầm nhìn 2030 (phê duyệt năm 2015).

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng theo luận án là gì? Ngoại giao công chúng luôn gắn liền với các mục tiêu chính trị chiến lược trực tiếp, chủ thể tham gia rộng rãi gồm cả khối tư nhân và NGO. Ngoại giao văn hóa là nỗ lực tạo điều kiện trao đổi, lan tỏa giá trị văn hóa và tư tưởng, không nhất thiết nhằm mục đích chính trị tức thời, và chủ yếu do nhà nước tổ chức hoặc bảo trợ.

3. Nội hàm "năm cánh anh đào" của ngoại giao văn hóa Việt Nam gồm những nội dung nào? Bao gồm: (1) Mở đường cho ngoại giao chính trị và kinh tế; (2) Tham mưu, đồng hành và tháo gỡ rào cản trong quan hệ quốc tế; (3) Quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam; (4) Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và giữ gìn bản sắc dân tộc; (5) Vận động UNESCO công nhận các danh hiệu di sản thế giới.

4. Nghiên cứu trường hợp (case study) cụ thể nào được luận án sử dụng để minh họa cho việc thực thi chính sách? Luận án sử dụng Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất ở nước ngoài” giai đoạn 2009-2019 do Bộ Ngoại giao chủ trì làm nghiên cứu trường hợp điển hình để đánh giá quy trình tổ chức, kết quả triển khai và bài học thực tiễn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thu Trang đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống về chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2009-2020 theo cách tiếp cận chu trình chính sách. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, phân tích các nhân tố tác động trong nước và quốc tế, đồng thời tổng kết thực tiễn triển khai qua bốn mảng hoạt động trọng tâm và một nghiên cứu trường hợp cụ thể. Các kết quả nghiên cứu và khuyến nghị trong luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho việc xây dựng và hoàn thiện chiến lược ngoại giao văn hóa Việt Nam hướng tới tầm nhìn năm 2030.