Chương 1 : Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2010. Chương 2 : Sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2011 đến năm 2015. Chương 3 : Nhận xét và kinh nghiệm. 10 z Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 1.
Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng 1. Hoàn cảnh lịch sử Tình hình quốc tế:Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI diễn biến phức tạp và nhiều màu sắc với các mâu thuẫn – quan hệ chồng chéo, đan xen, vận động, diễn biến vô cùng phức tạp. Tất cả các nước đều đặt lợi ích quốc gia làm mục tiêu tối thượng trong quan hệ quốc tế, tùy theo điều kiện của mình tham gia vào đời sống chính trị quốc tế hết sức nhộn nhịp. Sự đan xen đó tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc phản ánh mọi mặt của đời sống kinh tế chính trị thế giới.
Xu hướngtoàn cầu hoá ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với động lực là các cuộc “Cáchmạng khoa học kỹ thuật” diễn ra mạnh mẽ lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, trong bối cảnh đó lợi ích quốc gia ngày càng đan xen và tùy thuộc lẫn nhau làm ra đời một loạt chủ thể mới trên trường quốc tế, xuất hiện những vấn đề toàn cầu cần sự hợp tác của toàn thể cộng đông quốc tế.Tương quan lực lượng và quan hệ giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực lớn có nhiều thay đổi;cục diện thế giới đa cực ngày càng có những biểu hiện rõ ràng. Các nền kinh tế mới nổi (BRIC), đặc biệt là Trung Quốc tiếp tục có những bước phát triển mạnh, làm thay đổi tương quan sức mạnh tổng thể giữa các nước lớn, bao hàm cả kinh tế – chính trị – quân sựtạo thành một sự chuyển dịch sức mạnh rõ rệt theo hướng từ một sang đa trung tâm và do đó cục diện thế giới sẽ chuyển nhanh hơn theo hướng “đa cực”.Tuy nhiên, cục diện chung vẫn là “một siêu, đa cường”, Mỹ vẫn là cường quốc số một về cả kinh tế, chính trị và quân sự, có khả năng chi phối đời sống kinh tế – chính trị thế giới 11 z nhưng cũng phải chia sẻ ảnh hưởng với các cường quốc khác, nhất là các nước mới nổi lên như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Các nước lớn vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt hơn ở khu vực “ngoại vi”, nhất là ở các địa bàn chiến lược, giàu tài nguyên như: Trung Đông, châu Phi, Nam Á…các “khu đệm” cận kề các quốc gia mới nổi như khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Liên Xô cũ.Quá trình toàn cầu hoá cũng thúc đẩy sự liên kết kinh tế và liên kết khu vực phát triển mạnh, dẫn đến việc hình thành các tổ chức và cơ chế kinh tế, thương mại, tài chính có tính chất toàn cầu và khu vực như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Có thể khẳng định rằng: Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế chứa đựng những mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Toàn cầu hoá tạo cơ hội hợp tác và phát triển nhất là về kinh tế giữa các nước (chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hoá, trí tuệ, củng cố cơ chế quốc tế, tăng cường hữu nghị và xích lại gần nhau giữa các dân tộc). Mặt khác, toàn cầu hoá cũng tạo ra những nguy cơ to lớn cho nhân loại (gia tăng sự bất bình đẳng,khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, nguy cơ suy thoái truyền thống, bản sắc dân tộc, nguy cơ mất độc lập chủ quyền và quốc tế hoá các tiêu cực và tệ nạn xã hội). Sự thật là trong khi các nước lớn hợp tác và đấu tranh, cạnh tranh nhau để thiết lập trật tự thế giới đơn cực hay đa cực, thì tuyệt đại đa sốcác quốc gia, dân tộc trên thế giới vẫn kiên trì hợp tác và đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng, tốt đẹp, cho mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Như vậy, sự thay đổi trong tương quan so sánh quyền lực giữa các nước lớn,các trung tâm lớn của quan hệ quốc tế đã khiến tư duy đối ngoại của các quốc gia cần phải có sự thay đổi cho phù hợp. Xung đột sắc tộc, bạo loạn tiếp tục xảy ra ở nhiều nước và trở nên phức tạp hơn khi có nhân tố tôn giáo, ly khai.Các mâu thuẫn cơ bản trên 12 z thếgiớibiểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc thêm. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt với nội dung và hình thức mới. Năm 2006, khu vực Trung Đông vẫn là nơi tập trung nhiều loại mâu thuẫn gay gắt và nóng bỏng nhất thế giới, biểu hiện bằng cả chiến tranh, xung đột vũ trang, bạo lực khủng bố, khủng hoảng hạt nhân, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng nhân đạo.
Đặc biệt sau sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, Mỹ và các đồng minh tiến hành chiến tranh ở Áp-gha-ni-xtan, I-rắc nhằm mục đích chống khủng bố quốc tế, can thiệp có phần “thái quá” vào công việc nội bộ của một số nước có chủ quyền. Chính những hành động đó đã đe doạ nền an ninh chung của nhân loại và làm gia tăng các hoạt động khủng bố trên thế giới. Các vụ việc tương tự như bạo loạn ở Tây Tạng (2008) và Tân Cương (2009) có thể trở thành xung đột giữa Nhà nước củamột số nước lớn và thế giới Hồi giáo. Đặc biệt, sự xuất hiện của chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa phi truyền thống nguy hiểm nhất, là hiểm họa mang tính toàn cầu.
Hoạt động khủng bố diễn ra ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, song tập trung nhất là ở khu vực Trung Đông, Nam Á, Đông – Nam Á. Các tổ chức khủng bố tiến hành điều chỉnh chiến thuật khủng bố, chuyển từ tổ chức các vụ khủng bố quy mô lớn sang các hoạt động khủng bố nhỏ lẻ, thành phần tham gia khủng bố ngày càng đa dạng hơn, phương thức, thủ đoạn khủng bố ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Các tổ chức khủng bố đang tích cực củng cố về mặt tổ chức, bổ sung lực lượng và tìm kiếm, phát triển các phương tiện khủng bố kỹ thuật cao, đặc biệt nguy hiểm như vũ khí hóa học, sinh học và vũ khí hạt nhân. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra quyết liệt hơn và chuyển hướng sang các công nghệ sạch, tiết kiệm nguyên nhiên liệu.
Cách mạng khoa họccông nghệ ngày càng phát triển(nhất là trong các lĩnh vực côngnghệnano, năng lượng mới, công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin – tin học, tự động hoá, rô bốt…) sẽ tiếp tục là động lực phát triển của kinh tế thế giới, tác động 13 z đến tất cả các lĩnh vực đời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế. Thành tựu khoa học công nghệ giúp các nước phát triển sau có thể rút ngắn thời gian của từng nấc thang phát triển, có cơ hội thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu”, tiến thẳng vào các lĩnh vực hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao nếubcóchiến lược đúng. Cách mạng khoa học công nghệ cũng sẽ đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại các ngành công nghiệp đồng thờicũng mang đến những thách thức rất lớn đối với mọi quốc gia dân tộc, nhất là những nước nghèo lạc hậu sẽ đứng trước cơ hội phát triển hoặc tụt hậu, lệ thuộc bên ngoài. Thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu như bảo vệ môi trường, bùng nổ dân số, bệnh tật hiểm nghèo, tội phạm xuyên quốc gia… Trong đó, biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm và trở thành một chủ đề quan trọng trong chương trình nghị sự của các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế.
Đây sẽ là vấn đề tranh luận gay gắt giữa các nhóm nước đang phát triển và phát triển, thậm chí ngay trong từng quốc gia. Các vấn đề, như chống phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, chống các tội phạm xuyên quốc gia cũng là những vấn đề đáng quan ngại của các quốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế.Cạn kiệt tài nguyên, nhất là nguồn năng lượng và nguồn nước dẫn đến sự cạnh tranh phức tạp và có thể trở thành nguồn gốc của xung đột quốc tế. Việc chạy đua để kiểm soát tài nguyên giữa các cường quốc sẽ làm cho môi trường an ninh – chính trị quốc tế thêm căng thẳng. Biến động dân số trở thành một vấn đề toàn cầu lớn có tác động đến an ninh và phát triển.
Dân số toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhưng không đồng đều và mất cân đối ngày càng lớn, đặt ra nhiều vấn đề về môi trường, năng lượng, lương thực, và các vấn đề xã hội kèm theo. Tăng dân số trong bối cảnh toàn cầu hoá làm cho di cư quốc tế tăng lên cả về số lượng và phạm vi. Trong khi các nước đều có nhu cầu ngày càng lớn về giữ gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá, thì nhân tố di cư tác động bất lợi cho việc duy trì bản sắc và củng cố đoàn kết dân tộc / sắc tộc trong phạm vi mỗi nước. Những điều 14 z này có thể là thách thức đối với nhiều nước và làm phức tạp thêm quan hệ giữa các nước.
Khu vực:Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nằm ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – một khu vực năng động nhất về phát triển kinh tế và là tâm điểm của quan hệ quốc tế. Đặc biệt, khu vực Đông Á đã trở thành khu vực có tiềm năng và sức tăng trưởng nhanh nhất trong nền kinh tế thế giới. Xu thế hợp tác, liên kết trong khu vực phát triển mạnh mẽ, đặc biệt về kinh tế.Hàng loạt các Tổ chức trong khu vực như:Diễn đàn khu vực (ARF); Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC); sự hình thành cơ chế hợp tác ASEAN – Đông Bắc Á theo mô hình ASEAN + 1, ASEAN + 3; Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA).