CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ASEAN VÀ QUÁ TRÌNH GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM VÀO TỔ CHỨC ASEAN 1. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 1. Sự ra đời Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia Đông Nam Á đã giành được độc lập và thành lập các nhà nước với những hình thức khác nhau. Năm 1945, Indonesia, Việt Nam và Lào tuyên bố độc lập.
Năm 1946, Mĩ trao trả độc lập cho Philippines. Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Mianma. Năm 1965, Singapore tách khỏi Liên bang Malaysia tuyên bố thành nước cộng hòa độc lập. Năm 1984, Anh trao trả độc lập cho Brunei.
Điều này đánh dấu Đông Nam Á bước vào một giai đoạn phát triển mới. Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á có dự định thành lập một tổ chức khu vực nhằm thúc đẩy sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực đồng thời hạn chế sự ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách để biến Đông Nam Á thành “sân sau” của họ. Tiêu biểu như năm 1954, Mĩ thành lập Hiệp ước Phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) [16, tr. 12], lôi kéo hai nước trong khu vực là Thái Lan và Philippines vào cuộc chiến tranh chống Việt Nam.
Một số nước khác như Malaysia, Singapore đã tham gia khối quân sự ANZUS (1952) dưới sự bảo hộ của Mĩ hoặc Anh [34, tr. Mặt khác, trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á đã xuất hiện nhiều tổ chức khu vực và kí kết nhiều hiệp ước hợp tác giữa các khu vực [30, tr. Tháng 1/1959, Hiệp ước Hữu nghị và Kinh tế Đông Nam Á (SEAFET) gồm Malaysia và Philippines ra đời [5, tr. Tiếp đó, ngày 31/7/1961, ASA gồm Thái Lan, Philippines và Malaysia được thành lập.
Chỉ vài ngày sau, ngày 5/8/1963, một tổ chức gồm ba quốc gia Đông Nam Á hải đào là Malaysia, Philippines, Indonesia gọi tắt là MAPHILINDO được hình thành [5, tr. Tuy nhiên, những tổ chức trên đều không tồn tại được lâu do những bất đồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền [34, tr. ASA, MAPHILINDO không thành công nhưng nhu cầu về một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn đã trở nên bức xúc ở Đông Nam Á. Đồng thời, giữa các nước hội viên có điểm chung là họ đều chống lại tất cả các hình thức của chủ nghĩa đế quốc và nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại độc lập.
Sự chống đối mạnh mẽ các cường quốc lớn tăng cường ảnh hưởng trong khu vực xuất phát từ thực tế lịch sử là hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) đều từng là thuộc địa của các cường quốc lớn và chỉ mới giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó là thời kì các nước này xây dựng, củng cố nền độc lập đồng 9 thời tập trung phát triển kinh tế. Trước sự leo thang của Mĩ trong chiến tranh ở Đông Dương vào những năm 60, các nước Đông Nam Á lo ngại rằng điều này có thể dẫn đến sự thống trị hoặc đụng đầu giữa một số nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, các thành viên sáng lập ASEAN tin rằng cách tốt nhất để tránh sự thống trị của các cường quốc bên ngoài là đoàn kết các nước gần gũi về địa lí vào trong một tổ chức khu vực, nhấn mạnh đến hợp tác, tăng cường phát triển kinh tế và theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập.
Đồng thời, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các trào lưu hình thành chủ nghĩa khu vực trên thế giới đã xuất hiện như sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC, 1957) [6, tr. 22]; Khu vực Thương mại Tự do Mĩ Latinh (LAFTA, 1960); Thị trường chung Trung Mĩ (CACM, 1960),… đã tác động đến việc hình thành ASEAN. Từ kinh nghiệm của EEC, các nước Đông Nam Á cũng như các nước trong các tổ chức khu vực trên đều thấy rằng việc hình thành các tổ chức khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế và trong các lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, việc hình thành tổ chức khu vực giúp củng cố tình đoàn kết khu vực và giúp đỡ các nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế.
Ngoài ra, xu thế liên kết khu vực có thể góp phần đưa ra các giải pháp tăng cường hợp tác để giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội đặt ra cho các nước thành viên [34, tr. Từ các yêu cầu thực tế của khu vực và thế giới, Thái Lan là quốc gia tiên phong trong việc để thực hiện ý tưởng kể trên. Cuối năm 1966, Thanat Khoman, Bộ trưởng Ngoại giao của Thái Lan bắt đầu chuyển đến các Bộ trưởng Ngoại giao một số nước Đông Nam Á đề án lập “một tổ chức Đông Nam Á về hợp tác khu vực”. Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore và Phó Thủ tướng Malaysia kí tại Bangkok bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) [35, tr.
Từ 5 nước thành viên ban đầu đến nay ASEAN gồm 10 nước thành viên với diện tích khoảng 4,5 triệu km2, dân số hơn 675 triệu người. Thực tiễn đã chứng minh rằng một Đông Nam Á thống nhất làm cho hợp tác và vị thế ASEAN ngày càng lớn mạnh là tiền đề quan trọng để ASEAN trở thành một cộng đồng. Xu thế và nhu cầu thực tiễn về một tổ chức khu vực để đảm bảo các mục tiêu thúc đẩy hoà bình, hợp tác ở khu vực Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai là cơ sở trực tiếp dẫn đến sự ra đời của ASEAN. Sự ra đời của ASEAN có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình hợp tác Đông Nam Á.
Cơ cấu tổ chức Với định hướng phát triển đặc thù “thống nhất trong đa dạng” và “linh hoạt” trong các thời kì hoạt động, cơ cấu tổ chức của ASEAN đã được điều chỉnh cho phù hợp với 10 tình hình và yêu cầu hợp tác đặt ra trong mỗi giai đoạn khác nhau. Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của ASEAN đã qua 4 lần điều chỉnh bổ sung và phát triển, cụ thể: Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1976; giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1992; giai đoạn từ năm 1992 đến sự ra đời của Hiến chương 2007 và giai đoạn từ khi Hiến chương ASEAN ra đời năm 2007 đến nay [28, tr. * Giai đoạn từ khi thành lập đến Hội nghị Cấp cao Bali (1976): Trong giai đoạn đầu tiên, cơ cấu tổ chức của ASEAN được thiết kế một cách đơn giản. Cơ cấu được quy định trong điều 7 của Tuyên bố Bangkok năm 1967.
Theo đó, cơ cấu tổ chức của ASEAN trong giai đoạn này bao gồm các cơ quan: Hội nghị Ngoại trưởng (AMM); Ủy ban thường trực; Ban Thư kí ASEAN quốc gia; Các ủy ban thường trực, ủy ban đặc biệt hoặc ad hoc về các lĩnh vực hoặc vấn đề hợp tác cụ thể [41, tr. Đầu năm 1976 có 11 ủy ban thường trực và 9 ủy ban ad hoc đã được thành lập. Với kết cấu kể trên, tổ chức của ASEAN được đánh giá là khá lỏng lẻo, chưa mang tính tổ chức, hệ thống mà chủ yếu là nhằm để duy trì các hoạt động cơ bản của ASEAN. * Giai đoạn từ năm 1976 đến Hội nghị Cấp cao Singapore (1992): Sau Tuyên bố Bali, cơ cấu tổ chức của ASEAN có những thay đổi lớn.
Điều đó phản ánh sự trưởng thành của Hiệp hội cũng như tầm quan trọng của hợp tác kinh tế. Theo Tuyên bố Bali ngày 24/2/1976, cơ cấu tổ chức của ASEAN giai đoạn này gồm các Hội nghị bộ trưởng, các Ủy ban và Ban Thư kí [41, tr. Mặc dù Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao vẫn được coi là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của ASEAN nhưng 5 hội nghị bộ trưởng khác cũng đã được thiết lập để thảo luận và thông qua các chương trình hợp tác của ASEAN trên các lĩnh vực tương ứng, gồm: Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế (AEM); Hội nghị Bộ trưởng Lao động (ALM); Hội nghị Bộ trưởng phụ trách phúc lợi xã hội (ASWM); Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục (AEM); Hội nghị Bộ trưởng Thông tin (AIM). Trong số 5 Hội nghị trên, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế (AEM) có tầm quan trọng lớn nhất.
Tất cả các ủy ban thường trực và ủy ban ad hoc trước đó đã được tổ chức lại thành 9 ủy ban sau: Ủy ban về Công nghiệp, Khoáng sản và Năng lượng; Ủy ban về Thương mại và Du lịch; Ủy ban về Lương thực, Nông nghiệp và Lâm nghiệp; Ủy ban về Tài chính và Ngân hàng; Ủy ban về Vận tải và Liên lạc; Ủy ban về Ngân sách; Ủy ban về Phát triển xã hội; Ủy ban về Văn hóa và Thông tin; Ủy ban về Khoa học và Kĩ thuật. Ngoài ra, còn có một số tiểu ban được thành lập nhằm hỗ trợ cho các ủy ban nói trên giải quyết những vấn đề cụ thể. Như vậy, so với giai đoạn đầu mới thành lập, cơ cấu tổ chức của ASEAN đã có những điều chỉnh nhất định cho phù hợp với sự phát triển của Hiệp hội, đặc biệt là 11 việc hình thành các hội nghị và uỷ ban chuyên môn. Điều đó phản ánh sự trưởng thành của ASEAN nhằm tăng cường hợp tác về chính trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của ASEAN để đáp ứng được sự phát triển của ASEAN trong bối cảnh mới.
* Giai đoạn từ sau Hội nghị Cấp cao Singapore (1992) đến Hiến chương ASEAN (2007): Trước sự vận động và phát triển của thế giới vào những thập niên cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là xu thế tăng cường liên kết, hợp tác, ASEAN cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, thay đổi để thúc đẩy sự hợp tác nội khối và với bên ngoài, thúc đẩy sự bền vững và thể chế, tăng cường hợp tác đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế. Nhằm đáp ứng mục tiêu trên, tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 4 tại Singapore năm 1992, ASEAN đã ghi một dấu mốc quan trọng trong quá trình cải cách bộ máy tổ chức. Theo Điểm 8 của Tuyên bố Singapore năm 1992, bộ máy ASEAN trong giai đoạn này được cơ cấu gồm 2 nhóm cơ quan là các cơ quan hoạch định chính sách và các cơ quan chấp hành [41, tr. Theo đó, các cơ quan hoạch định chính sách gồm Hội nghị Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit); Hội nghị Ngoại trưởng (AMM); Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế (AEM); Hội nghị Bộ trưởng các ngành và Hội nghị liên Bộ trưởng (JMM).
Các cơ quan chấp hành gồm Ủy ban thường trực ASEAN (ASC) [35, tr.