Chương 1 DANG LÃNH ĐẠO TUNG BƯỚC BUA VIỆT NAM GIA NHAP ASEAN VA THAM GIA CAC LINH VUC HOP TAC CUA ASEAN (1995 — 2000) 1. Qua trình Dang lãnh đạo đưa Việt Nam gia nhập ASEAN 1. Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1986 —1995 Tình hình thế giới Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp làm thay đổi căn bản cục diện thế giới. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng dẫn tới sự sụp đồ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu.
Sự tan rã của một trong hai siêu cường của trật tự thế giới hai cực đã tạo ra một khoảng trong lớn trong không gian chính trị quốc tế, làm tan vỡ sự cân bằng giữa hai hệ thống chính trị xã hội đối lập chuyền sang có lợi cho Mỹ và các nước tư ban phát trién. Khi trật tự thé giới hai cực không còn nữa, thé giới chuyên sang cục điện mới với sự tham gia của nhiều nước, nhiều trung tâm. Nhật Bản và Tây Âu xem việc Liên Xô tan rã là thời cơ thuận lợi để vươn lên tăng cường vai trò chính trị và quân sự cho tương xứng với thực lực kinh tế của mình. Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Sự lớn mạnh của Trung Quốc đã tác động không nhỏ đến cán cân so sánh lực lượng của thế giới sau thời kỳ chiến tranh lạnh. Trung Quốc tham vọng trở thành siêu cường của thế giới vào giữa thế kỷ XXI. Ở khu vực Đông Nam Á, Hiệp định Paris về hòa bình ở Campuchia được kí kết vào tháng 10 năm 1991. Do đó, những bat đồng quan điểm trong việc giải quyết vấn đề Campuchia không còn nữa.
Mặt khác, khi trật tự thế giới hai cực cham dứt, Đông Nam A không còn được các cường quốc kinh tế thé giới đặt ở vị trí ưu tiên như trước. Nga và Mỹ đều giảm dần sự hiện điện của mình ở khu vực này. Nga tuyên bố rút quân khỏi Cam Ranh (Việt Nam), Mỹ rút quân khỏi căn cứ 12 Xubích và Clark (Philippines). Tình hình đó tạo ra một “khoảng trống quyền lực” các nước lớn ở vùng Đông Nam A.
Trung Quốc, Nhat Bản có gắng day mạnh vai trò của mình cả về kinh tế, chính trị, quân sự ở Châu Á cũng như ở Đông Nam Á. Bên cạnh đó lại nảy sinh những nguy cơ xung đột tiềm tàng biển Đông. Đó là thách thức lớn đối với ASEAN, buộc họ phải tính toán tìm ra cơ chế đảm bảo an ninh, hòa bình ở khu vực. Vì vậy, ASEAN chủ trương tăng cường bằng cách tiến tới ASEAN 10, lay việc kết nạp Việt Nam vào ASEAN là hướng ưu tiên, ra sức tạo ra thế cân bằng chiến lược mới ở khu vực bằng cách giữ cho Đông Nam Á hòa bình, trung lập và thịnh vượng, đứng ngoai những quan hệ phức tạp giữa các nước lớn.
Trước những xu thế mới của tình hình thé giới, hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN ngày càng được ưu tiên. Đầu những năm 90 của thế ky XX , tổng sản phẩm nội địa (GDP) tính theo đầu người của các nước ASEAN đã đạt mức: Singapore va Brunei khoảng 15000 USD, Malaysia là 2300 USD, Thái Lan trên 1400 USD, Philippineses trên 700 USD, Indonesia trên 600 USD. Các nước ASEAN tiến hành chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa. Với chính sách hướng ngoại, ngoại thương của ASEAN phát triển nhanh chóng đạt 160 tỉ USD vào đầu những năm 90, đến cuối những năm 90 bình quân hàng năm các nước thu hút 13,5 tỉ USD vốn dau tư của thé giới so với những năm 80.
Dự trữ ngoại tệ cũng tăng lên đáng kể, Singapore là trên 30 tỉ USD, Thái Lan trên 20 ti USD, Indonesia trên 10 tỉ USD, Philippines khoảng 4,5 ti USD. Toàn cau hóa cũng trở thành một xu thế mạnh mẽ từ sau khi trật tự 2 cực bị tan rã chuyền sang thế đa cực. Xu thế toàn cầu hóa tăng cường sự giao lưu hợp tác giữa các nước và các khối nước, giúp các nước phát triển nhanh tận dụng thành quả khoa học công nghệ của loài người. Quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi các nước phải mở rộng quan hệ lẫn nhau bat ké sự khác biệt về chế độ chính trị, xã hội, nước lớn hay nước nho.toan cầu hóa còn tạo điều kiện thuận lợi và hiệu quả cho sử dụng và lưu thông vốn , kỹ thuật và công nghệ, hàng hóa, lao động.
góp 13 phan làm tăng thêm san pham xã hội và sự phát triển chung của loài người. Tuy nhiên không vì thế các nước nhỏ, kém phát triển, lạc hậu lại đứng ngoai xu thé toàn cầu hóa vi thực tiễn đã cho thay không một quốc gia nao, không một nhóm nước nào dù lớn hay nhỏ và có tiềm năng có thé phát triển một cách biệt lập. Tình hình trong nước Từ những năm 70 nhất là vào những năm 80 của thế ki XX, nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Dé đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới.
Thực hiện đường lỗi đổi mới đó, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, sau 2 năm thực hiện “tình hình kinh tế, xã hội có sự cải thiện nhất định; nhịp độ lạm phát và tăng giá giảm một ít, tình hình cung ứng lương thực, hoạt động giao dịch, chuẩn bị hop tác với bên ngoài được mở ra” [37, tr. Trong các năm 1986 — 1989 tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đều tăng so với năm 1985, tổng sản phẩm xã hội tăng từ 4,8% năm 1986 lên 19,6% năm 1989, thu nhập quốc dân tương ứng cũng tăng từ 3,3% lên 14,7%; tình hình lương thực — thực phâm có chuyền biến tốt, từ chỗ thiếu ăn trién miên, năm 1988 còn phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, nay đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khâu” [39, tr. Về kinh tế đối ngoại: Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 439 triệu rúp và 384 triệu USD lên 1019 triệu rúp và 1170 triệu USD năm 1990 [39, tr. Lạm phát được kiềm chế, nếu chỉ số tăng giá bình quân hàng trên thị trường năm 1986 là 20%, 1987 là 10%, 1988 là 14%, 1989 là 2,5% đến năm 1990 là 4,4 % [39, tr.
Trong 5 năm từ 1991 — 1995 nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản phầm trong nước đạt 8,2%, công nghiệp tăng bình quân 13,3%, nông nghiệp tăng bình quân 4,5%, kim ngạch xuất khâu thủy hải sản năm 1995 gấp 3 lần năm 1990. Lạm phát được kiềm chế năm 1986 là 74,7% xuống còn 67,4% năm 1991, còn 12,7% năm 1995. Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Trong 5 năm tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 17 tỉ USD, tổng kim ngạch nhập khẩu trên 21 tỉ USD, quan hệ mậu dịch 14 đã mở rộng tới hơn 100 quốc gia.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh trong 5 năm, bình quân hàng năm là 50%. Đến cuối 1995, tổng số vốn đăng ký các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào đạt trên 19 ti USD [42, tr. Khoa học và công nghệ có bước phát triển mới, văn hóa và xã hội có những chuyền biến tích cực. Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được đảm bảo, chúng ta giữ vững ồn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đôi mới.
Trải qua 10 năm đôi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế nhưng nên kinh tế Việt Nam van là nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, có trình độ thấp, cơ sở hạ tầng ở dưới mức trung bình của các nước phát triển; trong các doanh nghiệp, trình độ thiết bị phần lớn công nghệ lạc hậu, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp, chất lượng nhiều sản phẩm chưa tốt và giá thành còn cao. Hệ thống tài chính ngân hàng còn yếu kém, vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh. Khoảng cách về trình độ phát triển của Việt Nam với các nước trong khu vực chậm thu hẹp, Báo cáo chính trị tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII của Đảng đã chỉ rõ “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới” [41, tr. Điều này đã gây không ít khó khăn cho việc Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế.
Từ điều kiện thực tế của Việt Nam lúc này, phát triển nhanh và mạnh quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều nước trong khu vực nhất là các nước ASEAN là chìa khóa để Việt Nam mở cánh cửa vào khu vực vả là cầu nối để bước vào hợp tác sâu rộng với các nước trên thế giới, qua đó tranh thủ được nguồn lực bên ngoài dé phát triển đất nước, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thé giới. Nhận thức sâu sắc được những tác động của tình hình thế giới và trong nước đối với sự phát triển kinh tế xã hội nước ta, đường lối đối ngoại đổi mới đã được hình thành và từng bước phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng. 15 Sự hình thành và phát triển đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý thức được tầm quan trọng của việc cần thiết phả ¡ xây dựng một môi trường quốc tế thuận lợi, ôn định cho sự phát triển của đất nước, từ năm 1986, Đảng và Nhà nước đã triển khai chính sách đối ngoại với phương châm phục vụ đắc lực cho chính sách đối nội.
Thang 7 năm 1986, Bộ Chính trị đã hop và ra quyết định 32 về “Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của ta trên mặt trận đối ngoại là kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn dau giữ vững hoa bình ở Đông Dương và Đông Nam Á, góp phần tích cực giữ vững hòa bình thế giới. tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất cho việc thực hiện hại nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” [96, tr.