Nghiên cứu vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á từ 1991 đến 2015

Luận án phân tích vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á giai đoạn 1991-2015, nêu bật những thách thức và cơ hội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quan hệ quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2017

182
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình lý luận về vai trò trong quan hệ quốc tế

1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của ASEAN trong khu vực Đông Á

1.3. Công trình của các tác giả

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

2.1. Quan niệm về vai trò chủ thể trong các lý luận quan hệ quốc tế

2.2. Chủ nghĩa hiện thực

2.3. Chủ nghĩa kiến tạo

2.4. Lý thuyết Vai trò (Role theory)

2.5. Cách tiếp cận trên cơ sở Phân tích Mạng lưới Xã hội

2.6. Các cách thức thực thi vai trò của ASEAN dưới góc nhìn Phân tích Mạng lưới Xã hội

2.7. Mở rộng liên kết

2.8. Giữ khả năng điều phối

2.9. Duy trì tính trung lập để đảm bảo khả năng kết nối

2.10. Tăng cường liên kết nội khối

2.11. Đảm bảo tính chính danh cho các hoạt động của Hiệp hội

2.12. Khung phân tích về vai trò của ASEAN

2.13. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN VAI TRÒ CỦA ASEAN TRONG HỢP TÁC AN NINH - CHÍNH TRỊ ĐÔNG Á TỪ SAU 1991 ĐẾN 2015

3.1. Giai đoạn thứ nhất (1991 - 1997): định hình vai trò

3.2. Các yếu tố tác động tới vai trò của ASEAN

3.3. Các hoạt động nhằm định hình vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh - chính trị Đông Á giai đoạn 1991-1997

3.4. Giai đoạn thứ hai (1998-2007): củng cố vai trò

3.5. Các yếu tố tác động tới vai trò của ASEAN

3.6. Các hoạt động nhằm củng cố vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh - chính trị Đông Á giai đoạn 1998-2007

3.7. Giai đoạn thứ ba (2008-2015): đẩy mạnh vai trò trung tâm

3.8. Các yếu tố tác động tới vai trò của ASEAN

3.9. Nỗ lực đẩy mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong hợp tác an ninh - chính trị Đông Á giai đoạn 2008-2015

3.10. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO VỀ VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ AN NINH CỦA ASEAN TRONG HỢP TÁC AN NINH - CHÍNH TRỊ

4.1. Đánh giá quá trình thực hiện vai trò an ninh của ASEAN trong hợp tác an ninh - chính trị Đông Á từ sau 1991 đến 2015

4.2. Đối với khu vực Đông Nam Á

4.3. Đối với khu vực Đông Á và các nước đối tác đối thoại có liên quan

4.4. Dự báo về khả năng thực hiện vai trò của ASEAN đến 2025

4.5. Các yếu tố tác động tới vai trò của ASEAN đến 2025

4.6. Dự báo về vai trò của ASEAN đến năm 2025

4.7. Khuyến nghị đối với ASEAN nhằm duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong các hợp tác an ninh - chính trị khu vực Đông Á đến 2025

4.8. Khuyến nghị đối với Việt Nam

4.9. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ASEAN và vai trò trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập vào năm 1967, đã trở thành một cơ chế hợp tác khu vực quan trọng trong việc duy trì ổn định và phát triển kinh tế tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Từ sau Chiến tranh Lạnh, ASEAN đã dần khẳng định vai trò của mình trong việc định hình kiến trúc an ninh khu vực Đông Á. Việc thành lập Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF) vào năm 1994 là một bước ngoặt quan trọng, cho phép các quốc gia trong khu vực thảo luận và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề an ninh. Các cơ chế hợp tác khác như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) cũng đã được thiết lập nhằm tăng cường hợp tác an ninh. Những nỗ lực này đã giúp ASEAN khẳng định vị trí trung tâm trong các vấn đề an ninh chính trị khu vực.

II. Các giai đoạn phát triển vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị

Giai đoạn từ 1991 đến 2015 có thể chia thành ba giai đoạn chính. Giai đoạn đầu (1991-1997) chứng kiến sự định hình vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị. Các yếu tố như sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và sự gia tăng ảnh hưởng của các cường quốc đã tạo điều kiện cho ASEAN phát triển các cơ chế hợp tác an ninh. Giai đoạn thứ hai (1998-2007) là thời kỳ củng cố vai trò của ASEAN, khi tổ chức này bắt đầu khẳng định mình như một trung tâm trong các vấn đề an ninh khu vực. Cuối cùng, giai đoạn từ 2008 đến 2015 là thời kỳ ASEAN mạnh mẽ hơn trong vai trò trung tâm, với việc thúc đẩy các sáng kiến hợp tác an ninh đa phương và tăng cường quan hệ với các đối tác bên ngoài khu vực.

III. Đánh giá vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á

Đánh giá vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á cho thấy tổ chức này đã đóng góp quan trọng trong việc duy trì hòa bình và ổn định khu vực. ASEAN đã tạo ra một nền tảng cho các cuộc đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia, giúp giảm thiểu căng thẳng và xung đột. Tuy nhiên, ASEAN cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự can thiệp của các cường quốc và sự khác biệt trong lợi ích giữa các quốc gia thành viên. Việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị là cần thiết để đảm bảo an ninh khu vực trong bối cảnh biến động hiện nay.

IV. Dự báo và khuyến nghị cho vai trò của ASEAN đến năm 2025

Dự báo về vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị đến năm 2025 cho thấy tổ chức này sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các quốc gia trong khu vực. Để duy trì và phát huy vai trò này, ASEAN cần tăng cường khả năng điều phối và duy trì tính trung lập trong các vấn đề an ninh. Khuyến nghị cho ASEAN bao gồm việc phát triển các cơ chế hợp tác an ninh đa phương, nâng cao năng lực của các thành viên và tăng cường quan hệ với các đối tác bên ngoài. Điều này sẽ giúp ASEAN không chỉ duy trì vai trò trung tâm mà còn nâng cao vị thế của mình trong bối cảnh an ninh chính trị khu vực Đông Á.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ quốc tế học vai trò của asean trong hợp tác an ninh chính trị đông á từ sau 1991 đến 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU Tổng quan tình hình nghiên cứu của Luận án bao gồm hai phan (1) Các công trình lý luận về vai trò của chủ thé QHQT; và (2) Các công trình nghiên cứu về vai trò của ASEAN. Trong đó, đối với tình hình nghiên cứu lý luận về vai trò của chủ thé QHOQT, luận án tập trung vào các công trình liên quan đến vai trò chịu ảnh hưởng của các lý thuyết QHQT phổ biến (Chủ nghĩa Hiện Thực, Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Kiến tạo) và một vài lý thuyết trong lĩnh vực khác có đề cập cụ thể tới vai trò trong quan hệ xã hội như Lý thuyết Vai trò (Role theory), lý thuyết về vai trò trung tâm trong Phương pháp phân tích mạng lưới xã hội (Social Network Analysis - SNA). Phần nội dung này không có các công trình nghiên cứu trong nước. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả luận án, chưa có một nghiên cứu trực tiếp nào về lý thuyết vai trò trong QHQT.

Đối với tình hình nghiên cứu về vai trò của ASEAN, các công trình được chia theo nhóm mức độ đánh giá vai trò của ASEAN cao hay thấp của các tác giả nước ngoài và trong nước. Các công trình lý luận về vai trò trong quan hệ quốc tế “Vai trò” (role) là một khái niệm có nguồn gốc trong các nghiên cứu xã hội học và tâm lý học. Nghiên cứu về “vai trò” bắt đầu được quan tâm từ những năm 1930 với các công trình của tác giả Charles Horton Cooley (1922) với tựa đề “Human Nature and the Social Order” (Bản chất Con người và Trật tự xã hội), Linton (1936) với “The study of Man: An Introduction” (Nghiên cứu về con người: Giới thiệu chung), va Mead (1934) cùng “Mind, self and society” (Nhận thức, bản thân và xã hội). Các công trình đã xem xét thước đo vai trò của một chủ thé thông qua quan điểm xã hội với “nhận thức”, “quyền” và “nghĩa vụ” liên quan.

Trong các nghiên cứu này, Ralph Linton (1936) với định nghĩa về “vai trò” trong chương sách có tựa dé “Status and role” (Vị thé và vai trò) được coi là xuất phát điểm cho tat cả các nghiên cứu tiếp theo của xã hội học về chủ đề này”.Theo sau Linton, một loạt các nghiên cứu khác bàn vê “quyên” và “nghĩa vụ” của một cá ? Theo Linton, vai trò được định nghĩa là một khía cạnh năng động của địa vi, là động lực cho địa VỊ và công cụ đề biên địa vị thành hành động. Cũng theo định nghĩa nay, dia vị được coi là vi trí của chủ thê trong xã hội và vai trò là tập hợp quyên và nghĩa vụ của chủ thê năm giữ vị trí đó (Linton, 1936) nhân với vai trò xác định như Newcomb (1950) với bài viết có tựa đề “Role behaviors in the study of individual personality and of groups” (Các cách cư xử của vai trò trong nghiên cứu về tính cách cá nhân và tính cách nhóm). Tuy nhiên, tới những năm 1960, có một sự chuyền hướng trong nghiên cứu về “vai trò” khi các học giả thay việc tập trung vào quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, bằng việc quan tâm tới vai trò chủ thé trong sự tương tác với cấu trúc xã hội." Sự thay đổi này phần nào khiến khái niệm “vai trò” trở nên gần gũi hơn với nghiên cứu QHỌT. Khái niệm này chính thức bắt đầu được bàn tới trong nghiên cứu của học giả K.

Tuy vậy, cho đến nay, việc nghiên cứu vai trò trong QHQT vẫn chủ yếu nam trong các lý thuyết QHQT như Lý thuyết Hiện thực, Tự do, Kiến tạo. Các bài nghiên cứu dựa trên các lý thuyết này không đưa ra một hệ thống khái niệm về vai trò, khuôn khô hay tiêu chí đánh giá về vai trò cũng như yếu tố cấu thành nên vai trò của một chủ thé nói chung. Vai trò của các chủ thé thường được xem xét, phân tích và đánh giá xen kẽ trong các nghiên cứu về các vấn đề QHQT. Do không đồng nhất trong đối tượng, trọng tâm nghiên cứu, cách nhìn nhận QHQT, các lý thuyết này khác nhau ở đối tượng, đánh giá vai trò cũng như nhận thức về vai trò và mức độ thành công, thất bại của một chủ thể trong QHQT.

Những điều này được thể hiện ở các công trình chịu ảnh hưởng của các lý thuyết khác nhau như sau: e_ Các công trình liên quan đến vai trò chủ thé quan hệ quốc tế chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Hiện thực Với Chủ nghĩa Hiện thực các tác giả thường đồng nhất các khái niệm như vai trò, vị thế và quyền lực. Lý luận về vai trò trong QHQT tế dưới góc độ phân tích của CNHT thường tập trung vào chủ thể là các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc. Dựa trên các lý luận của CNHT, có thể nhận thấy yếu tố căn bản dé tạo nên vai trò là quyền lực (CNHT Cô điền) và/hoặc hệ thống quốc tế, cụ thể là vị trí 3 Theo Turner (2002) “vai tro” là khái niệm “thể hiện các giá trị (values) và khả năng một cá nhân có thể thực hiện hoặc đem tới trong các tương tác với các chu thê khác ”. 10 trong cấu trúc phân bố quyền lực (CNHT Mới).

Hans Morgenthau (1947, 1948) trong hai cuốn sách nỗi tiếng của minh là “Scientific Man versus Power Politics” (Con người khoa học đối lại Chính trị học Quyền lực) va “Politics Among Nations: Struggle for Power and Peace” (Nền chính trị giữa các quốc gia: Cuộc dau tranh vì quyền lực và hòa bình) đã bàn tới vai trò và sự phát triển của các cường quốc qua lăng kính của quyền lực. Tác giả này đồng thời phân chia vai trò của các quốc gia trong QHQT thành vai trò duy trì quyền lực (keep power) với chính sách duy trì hiện trang (status quo), vai trò gia tăng quyền lực (increase power) với chính sách dựa trên nền tảng là chủ nghĩa đế quốc, và thể hiện quyền lực (demonstrate power) cùng chính sách tạo nên uy tin (policy of prestige). Ngoài Hans Mogenthau, không ít các nghiên cứu dựa trên CNHT có đề cập tới vai trò trong QHQT. Một số các công trình từ các học giả CNHT Mới theo thuyết Cân bằng Quyền lực (Balance of power theory) như các tac giả Stuart J.

Kaufman, Richard Little va William C. Wirtz, Michel Fortmann với “Balance of power: theory and practice in the 21st century” (Cân bằng quyền luc: lý thuyết va thực tế trong thế kỷ 21). Các nghiên cứu nay phân tích vai trò của chủ thé QHQT qua một số vai trò như vai trò cân bằng (balancer), gây han (aggressor), và bảo vệ (defender). Trong khi đó, một số khác các học giả Hiện thực khác thì luận bàn về vai trò bá quyền (hegemon), siêu cường (superpower) hay lãnh dao (leader) của các chủ thể QHQT với một số nghiên cứu nồi bật như: Robert Gilpin (1975) trong tác phẩm “US power and the multinational corporation: the political economy of foreign direct investment” (Quyền lực Mỹ va tập đoàn da quốc gia: kinh tế chính tri thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài), John Mearsheimer (2001) với “The Tragedy 11 of Great Power Politics”, hay Cronin Bruce (2001) với bài viết “The paradox of hegemony: America's ambiguous relationship with the United Nations” (Nghich ly của quyền bá chủ: Mối quan hệ không rõ ràng giữa Mỹ va Liên Hop Quốc).

Bên cạnh đó, Organski, A. (1958, 1981) đại diện của nhóm học giả theo thuyết Chuyển dịch quyền lực (Power transition theory) cũng đưa lại những phân tích đáng chú ý có liên quan tới vai trò trong QHQT. Với hai công trình tiêu biểu như cuốn sách “World Politics” (Nền chính trị thé giới) xuất ban năm 1958, và “The war ledger” (Cuốn số tổng hợp về chiến tranh) xuất bản năm 1981. © Các công trình liên quan đến vai trò chủ thé quan hệ quốc tế chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tự do Với Chủ nghĩa Tự do, ngoài vai trò của quốc gia, vai trò của các chủ thê phi quốc gia như tổ chức quốc tế, công ty xuyên quốc gia, các thé chế khu vực,.

đã được lý thuyết này rất chú ý. Robert Keohane là học giả có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn về “vai trò” thông qua lăng kính của CNTD. Trong công trình viết chung cùng Joseph S. Nye năm 1977 có tựa đề “Power and Interdependence: World Politics in Transition” (Quyén luc va Su phu thudc lẫn nhau: Chính trị thé giới trong chuyền đổi), Keohane cùng cộng sự đã cụ thể hoá vai trò của thể chế khu vực trong QHQT bao gồm vai trò thiết lập chương trình nghị su (agenda - setter), diễn đàn cho việc hình thành liên minh (arenas for coalition formation), và diễn đàn cho các hoạt động chính trị của các nước yếu (arenas for political action by weak states).

Sau đó, với hai cuốn sách nổi tiếng “After Hegemony: Cooperation and Discord in the World Political Economy” (Hậu bá quyền: hợp tác và bất hòa trong kinh tế chính trị thế giới) xuất bản năm 1984 và “International Institutions and State Power: Essays in International Relations Theory” (Thê chế quốc té và Quyền lực quốc gia: Các bài luận về Ly thuyết Quan hệ quốc tế) xuất ban năm 1989, Keohane tiếp tục tạo nên những lý luận cơ sở quan trọng cho Chủ nghĩa Tự do mới về vai trò của chủ thể phi quốc gia, bản chất và tác động của sự phụ thuộc lẫn nhau trong nên chính trị thế giới. Đặc biệt, Robert Keohane cũng tham gia một nghiên cứu khác với Lisa Martin (1995) nhằm phản bác lại quan điểm của các nhà lý luận Hiện thực vé việc có sự phân tách giữa kinh tê và chính tri cũng như việc coi nhẹ 12 vai trò của các chủ thé phi quốc gia. Công trình này có tựa đề “The Promise of Internationalist Theory” (Lời hứa của Lý thuyết Thể chế). Tương tự, kết hợp với Andrew Moravcsik va Anne-Marie Slaughter (2000), Keohane có bài viết “Legalized dispute resolution: Interstate and transnational.

Bai viết tập trung chi tiết vào vai trò của các thê chế hợp tác trong đó có các cơ chế và hệ thống pháp luật. Các lý luận về “Vai trò trong quan hệ quốc tế” cũng được b6 sung với các nghiên cứu thực tế dựa trên thuyết Tự do của Kenneth W. Abbott cùng cộng sự về “International organizations as orchestrators” (Các tô chức quốc tế với vai trd người điều phối), Eward, A. với nghiên cứu có tựa đề “Institutions for the earth: sources of effective international environmental protection” (Cac thé ché cho trai dat: nguồn sốc cho việc bảo vệ môi trường toàn cầu một cách hiệu quả).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Vai trò của ASEAN trong hợp tác an ninh chính trị Đông Á (1991-2015)" khám phá những đóng góp quan trọng của ASEAN trong việc duy trì hòa bình và ổn định khu vực Đông Á trong suốt 25 năm. Tác giả phân tích các cơ chế hợp tác an ninh mà ASEAN đã thiết lập, cũng như những thách thức mà tổ chức này phải đối mặt trong bối cảnh chính trị phức tạp. Độc giả sẽ nhận thấy rằng ASEAN không chỉ là một diễn đàn hợp tác mà còn là một yếu tố then chốt trong việc định hình chính sách an ninh khu vực, từ đó giúp nâng cao hiểu biết về vai trò của tổ chức này trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế tầm nhìn ấn độ dương thái bình dương tự do và rộng mở của nhật bản 2016 2021, nơi phân tích tầm nhìn chiến lược của Nhật Bản trong khu vực. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ quá trình vận động của cục diện chính trị đông á từ 1991 đến 2011 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự biến đổi của cục diện chính trị trong khu vực. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quốc hội việt nam thực hiện chủ trương của đảng đẩy mạnh ngoại giao với nghị viện các nước asean từ năm 1991 đến năm 2010, để thấy rõ hơn về vai trò của Việt Nam trong ASEAN. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hợp tác an ninh chính trị trong khu vực Đông Á.