Chương 1: Quốc hội Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại với nghị viện các nước ASEAN (1991 – 2000) Chương 2: Quốc hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với Nghị viện các nước ASEAN (2000 – 2010) Chương 3: Một số nhận xét và Kinh nghiệm lịch sử 9 z Chƣơng 1 QUỐC HỘI VIỆT NAM MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VỚI NGHỊ VIỆN CÁC NƢỚC ASEAN (1991 - 2000) 1. Chủ trƣơng, đƣờng lối đối ngoại của Đảng (1991 – 2000) 1. Bối cảnh trong nước và quốc tế Trong những năm 1991 đến năm 1995 tình hình quốc tế và trong nước tuy rất phức tạp nhưng cũng có những thuận lợi và khả năng mới. Một mặt, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật hiện đại; sự quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới; xu thế hợp tác, đối thoại giữa các nước trong khu vực cũng như trên toàn cầu; triển vọng giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia và khả năng mở rộng hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế đang và sẽ tạo ra cho chúng ta những cơ hội thuận lợi mới để đưa đất nước sớm ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
Quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng được mở rộng, trong đó quan hệ với một số nước gần đây có một số cải thiện, mở ra triển vọng từng bước bình thường hóa. Điều đó tạo thêm khả năng để cho chúng ta mở rộng thị trường, tham gia ngày càng sâu hơn vào sự phân công lao động quốc tế, thu hút nguồn vốn và kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm của thế giới để xây dựng đất nước. Đồng thời, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng vươn lên thích ứng với những yêu cầu khắt khe về chất lượng, hiệu quả, về quy chế và luật pháp kinh doanh của thị trường thế giới. 58] Mặt khác, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc.
Công cuộc cải tổ của Liên Xô đang gặp nhiều khó khăn. Ở một số nước, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Các lực lượng thù địch nhân cơ hội này đẩy mạnh sự công kích từ nhiều phía, bằng nhiều thủ đoạn và phương tiện vào chủ nghĩa xã hội. Họ công khai đề ra mục tiêu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội thế giới trước năm 2000.
Bên cạnh đó, sự bao vây, cấm vận kinh tế 10 z đối với nước ta vẫn chưa bị xóa bỏ. Sự cạnh tranh ác liệt trên thị trường thế giới gây cho ta không ít thua thiệt. Tình hình đó tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội trong nước, ảnh hưởng nhất định đến nhận thức, tư tưởng của một bộ phận đảng viên và nhân dân ta. Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới, khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn chưa chấm dứt.
Đến năm 1991, sau hơn 4 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng đó là: Tình hình chính trị của đất nước ổn định; Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực; Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm; Đối ngoại đã từng bước phá thế bị bao vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo môi trường thuận lợi hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên cạnh những thành tựu bước đầu đã đạt được, đất nước còn nhiều yếu kém và khó khăn, chưa vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng vẫn chưa được giải quyết, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế. 229-230] Trong những năm từ 1995 đến năm 2000 bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều chuyển biến lớn. Sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 được coi là chấn động lớn nhất trong nền chính trị thế giới nửa cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào.
Nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. 11 z Các nước đều đứng trước những cơ hội để phát triển. Nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, v.
thuộc về các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và các công ty đa quốc gia, cho nên các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn. Chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng. Cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ diễn ra gay gắt. Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo…), không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp tác đa phương.
Khu vực châu Á - Thái bình Dương đang phát triển năng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao. Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định. Trong quan hệ quốc tế; đã và đang nổi lên những xu thế chủ yếu sau đây: - Hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
- Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt. - Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc. - Các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
12 z - Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình. Các đặc điểm và xu thế nêu trên đã làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có Việt Nam. Có thể nói, tình hình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sống xã hội nước ta, đưa đến những thuận lợi đồng thời cũng làm xuất hiện những thách thức lớn. Ở trong nước, đến năm 1996, công cuộc đổi mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt.
Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân. Nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%/năm, cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ. Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước tiếp tục được xây dựng. Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước.
Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng cố, công tác bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được tăng cường. Thành tựu của 10 năm đổi mới đã tạo được những tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ, Việt Nam đã phá được thế bị bao vây, cấm vận, đồng thời tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN.
Những thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại góp phần quan trọng vào công cuộc giữ vững hòa bình, ổn định, cải thiện và 13 z nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đồng thời đây cũng là cơ sở để Đảng ta tiếp tục chỉ đạo đường lối đối ngoại của ta trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức như: nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hoà bình”; tệ quan liêu, tham nhũng. Tình hình thế giới và thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới trên mọi mặt, trong đó có hoạt động đối ngoại. Thực tế tình hình trên đây cho thấy cục diện thế giới và trong nước những năm sau đổi mới có nhiều biến chuyển to lớn, nó không chỉ tác động đến một quốc gia mà ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới.
Xu thế toàn cầu hóa, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển trở thành chủ đạo trong các mối quan hệ quốc tế. Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đòi hỏi các quốc gia phải đổi mới, chủ động sáng tạo để không bị tụt hậu và kém phát triển trong xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới.