CHƯƠNG I: TONG QUAN VE SÁNG KIÊN “ CON DUONG TO LUA MOI” CUA TRUNG QUOC 1. Cơ sở hình thành “Con đường tơ lụa mới” của Trung Quốc 1. Con đường tơ lụa thời cỗ đại Con đường tơ lụa được xem là con đường huyền thoại của nhân loại trong nhiều thé ký, được đánh giá là một sự kiện lịch sự trong quan hệ kinh tế - văn hóa giữa phương Đông và phương Tây thời cô đại. Đây là con đường gắn kết giữa Trung Quốc, Tay A, Trung Á và một phần của Địa Trung Hải.
Giao lưu kinh tế - văn hóa ở thời kỳ này phần lớn đêu được tiên hành qua con đường này. Vào thé kỷ 3 TCN Trung Quốc đã tìm cách nuôi tim, dệt lụa và đây được xem là quê hương của tơ lụa. Trong thời kỳ này, lụa chính là một vật phẩm có giá trị cực cao, chỉ đành riêng cho hoàng gia và tang lớp quý tộc của triều đại phong kiến mới được phép sử dụng. Dan dan, các tang lớp khác trong xã hội bắt đầu mặc quan áo được đệt bằng lụa va từ đó, mặt hàng lụa được sử dụng phô biến hơn.
Lua được xem lả một mặt hàng quý giá được các nước khác săn đón từ rất sớm. Những chuyển hàng mang sản pham to lụa sang phương Tây da dần hình thành nên tuyến đường giao thương quốc tế mà về sau nó được mang tên là Con đường tơ lụa. “Con đường tơ lụa” thời cô đại được phát xuất từ Trường An (nay là thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây) hướng về phía Tây, sau khi qua nhiều sông núi và thành tran, được chia thành ba lộ tuyến: Lộ tuyến Nam từ phía Tây Nam Đôn Hoang ra Dương Quan đi qua Thạch Thanh Tran, Bá Tiên Tran, Vu Điền Tran và tiêu vương quốc Sơ Lac, sau đó vượt phía Tây núi Thông Lãnh về đến Ba Tư, Thổ Nhĩ Ki và dé quốc La Mã. Lộ tuyến Bắc từ phía Tây Bắc Đôn Hoảng ra Ngọc Môn Quan, men theo phía Nam chân núi Thiên Sơn đi về phía Tây, qua Tây châu, Hán Luân Đài, đến các tiểu vương quốc Khưu Từ vả Sơ Lặc, sau đó cũng vượt núi Thông Lãnh.
Về sau, vì sự tính toán lợi hại của đường đất, các thương nhân còn mở thêm một lộ tuyến mới phía Bắc, tức cũng ra Ngọc Môn quan, nhưng theo phía Bắc chân núi Thiên Sơn đề đi về hướng Tây. Sau khi qua Đình Châu vả Y Ninh, tiếp tục về hướng Tây đến Hy Lạp, Đông La Mã và Địa il Trung Hai.” Ngay từ thời Tây Hán, các thương nhân Trung Hoa đã muốn đưa lụa tới các vùng láng giéng gần biên giới nhà Hán dé bán kiếm lời. Tuy nhiên, theo sử Trung Quốc, vao những năm đầu nhà Hán đã gặp phải sự tan công của bộ tộc Hung Nô - một bộ tộc du mục cường thịnh ở phía Bắc Trung Quốc. Bộ tộc nay không ngừng phát động chiến tranh xâm lan ra bên ngoài, điều này gây sức ép lớn đôi với triều Hán.
Hau hết các dân tộc ở vùng Tây Vực đều bị ức hiếp và chịu sự phụ thuộc bởi tộc Hung N6. Đến thời Hán Vũ Dé, dé loại trừ tộc Hung Nô. họ đã liên kết với tộc Đại Nguyệt Thị va các nước Tây Vực cùng nhau chống lại Hung Nô. Dé đặt mối quan hệ giao bang với các với các quốc gia và dân tộc mới.
năm Kiến Nguyên thứ 3 (138 TCN) và năm Nguyên Đinh thứ 2 (115 TCN), Hán Vũ Dé đã hai lần phái Trương Khién đi sứ Tây Vực đàm phán với người Nguyệt Chi nhằm cùng nhau đánh bại quân Hung Nô. Tuy nhiên, mới đi được một nửa chặng đường, Trương Khiên đã bị người Hung Nô bắt giữ và giam cầm hơn 10 năm. Sau đó, ông trên thoát được, ở lại vùng đất nay, tới năm 126 TCN mới trở về Trường An. Trong hai lần đi sứ, hành trình mà Trương Khién đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khô đề tìm ra đường đi tới các nước Tây Vực, đây cũng chính là tiền thân của con đường tơ lụa thời cô đại.
Tuy chuyến đi của Trương Khiên không đem về thêm một môi quan hệ nào mới cho nhà Hán nhưng đã giúp nhà Hán có thêm nhiều kiến thức về nền văn hóa phương Tây và cũng là nền móng cho việc khai thông con đường trên bộ?. Sau khi nhà Hán quyết định mở cửa với Tây Vực và các nước khác, hàng hóa bắt đầu được lưu thông, trao đổi trên tuyến đường mà Trương Khiên đã khám phá ra. Tuyến đường này xuất phát từ kinh đô Trường An - Tây An ngảy nay, theo hướng Tây xuyên qua hành lang Hà Tây, qua Thiền Trúc - An Độ. đến An Tức - Iran, rồi đến Đại Tan - tức dé quốc La Mã ở Châu Âu.
Thông qua tuyến đường này, từ đây tơ sống và các sản phẩm từ dệt tơ lụa của Trung Quốc bắt đầu được vận chuyên ra nước ngoài, và đây được xem 1a mặt hang rất thịnh hành ở các nước phương Tây lúc bay giờ. Hành trình mang tơ lụa sang phương Tây không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh té, mà con có anh hưởng mạnh đến mặt chính trị, * Tran Yên Thảo & Lâm Hoang Lan (2015), “Con đường to lựa. Nghiên cứu lich si.con2015/08/13/con-đượng-to-luä/, truy cập ngày 15/01/2023 * Pang Tân Du (1998). “Con đường tơ lụa và tác dung của né trong giao lưu vấn hỏa Trung Quốc - phương Tay”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số $, tr.40 12 ngoại giao, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật cũng như sinh hoạt của nhân dân.
Han Vũ Dé là một nhân vật kiệt xuất, dưới thời trị vì của ông (140 TCN đến 86 TCN), cùng với sự hình thành của con đường tơ lụa Tây Vực, Nha Hán đã nỗ lực khai thông tuyến đường biên nhằm đây mạnh sự giao lưu và mở rộng ảnh hưởng của vương triều Hán ra bên ngoài. Thời Tây Hán, nhà nước Trung Quốc phát triển vững mạnh về mặt kinh tế, cùng với nên chính trị thống nhất, đó chính là tiền dé quan trọng thúc day phát triển giao lưu kinh tế - văn hóa với các nước. Trước thời Hán, sản phẩm tơ lụa Trung Quốc đã được buôn bán nhưng chỉ mang quy mô nhỏ dưới sự chỉ đạo của Triều đình. Sau khi Tan Thủy Hoàng thôn tính sáu nước Tê, Yên, Triệu, Sở.
Ngô, Việt, nhân dân các nước chạy loạn đã tìm đường vượt biên sang Triều Tiên, dan hình thành nên tuyến giao thông trên vùng biên phía Đông. Tuyến đường này thông qua Đông Hải (Hoang Hai ngày nay), nối với Triều Tiên và Nhật Ban. Từ đây, tơ lụa và kỹ thuật nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải của người Trung Quốc đã được truyền bá sang Triều Tiên và đến thời Hán từ Triều Tiên lại được truyền tới Nhật Bản. Con đường truyền bá kỹ thuật này cũng chính là tuyến đường biển vận chuyền tơ lụa ra nước ngoài sớm nhất của Trung Quốc và sau này nó đã trở thành một bộ phận quan trọng của con đường tơ lụa trên biên.
Tuy nhiên, trong thời Tan - Hán chưa diễn ra các hoạt động thương mại trên tuyến đường biên phía Đông này do đó việc vận chuyên tơ lụa trong thời kỳ này không mang tinh chất thương mại. Cho đến năm Nguyên Dinh thứ 6 (111 TCN), sau khi bình định Nam Việt, Hán Vũ Dé cho thành lập quận Hợp Phố cùng những cảng biển đầu tiên như: Hợp Phố, Từ Văn, tuyến đường biên phía Nam được hình thanh, từ đây thương mại mới thực sự đi vào hoạt động và tơ lụa Trung Quốc theo thuyền của các xứ đoàn cập bến tới nhiều quốc gia. Thực tế, vào thời Hán, hàng tơ lụa Trung Quốc xuất khâu ra nước ngoài chủ yếu là thông qua con đường tơ lụa trên bộ Tây Vực và Tây Nam. Vì những hạn chế nảy sinh trên tuyến đường bộ, nhà Hán đã nỗ lực khai thông tuyến đường biển.
Con đường tơ lụa trên bộ chí thông tới những nước tiếp giáp với Trung Quốc, muốn vận chuyên hàng đi xa hơn vé phía Tây, đoàn lái buôn phải đi qua một loạt các nước và nêu như một trong số các nước đó xảy ra chiến tranh hay một nước nao đó nảy sinh mưu đồ lũng đoạn dẫn đến thao tũng hoạt động thương mại trên tuyến đường nảy thì toàn bộ hoạt động của 13 tuyến đường sẽ bị anh hưởng nghiêm trọng. điều kiện tự nhiên trên tuyến đường bộ lại vô cùng khắc nghiệt, đoàn lái buôn phải vượt qua những ngọn núi cao lạnh lẽo, những sa mạc căn cỗi nóng bong mit mủ bão cát. Phương tiện vận chuyên duy nhất là thé hàng trên lưng lạc đà, do vậy số lượng hang thô không nhiều và thời gian vận chuyên lâu. Hơn nữa, với vị trí địa lý đặc biệt, Trung Quốc là một đất nước rộng lớn với đường bờ biển dai, có lịch sử về hàng hải, họ biết lợi dụng sức gió, sự vận động của những dòng hải lưu và thuật chiêm tính.
Bờ biên phía Đông đại lục Trung Hoa có hướng Bắc — Nam, nên các nhà hàng hải cô đại Trung Quốc biết rằng, đi về hướng Đông sẽ tới Nhật Bản và theo hướng nam sẽ tới Đông Nam Á. Do vậy, từ rất sớm cư dân vùng Hoa Đông đã có mỗi liên hệ mật thiết với Nhật Bản, Triều Tiên con người Hoa Nam có môi quan hệ qua lại thường xuyên với cu din Đông Nam A. Từ những điểm hạn chế va ưu điềm vé địa lý cộng với ý đồ mở rộng ảnh hưởng chính trị ra bên ngoài của triều đình Han đã dẫn tới việc hình thành tuyến đường buôn bán trên vùng biên phía Nam.1) Thực vậy, cùng với việc gia tăng ảnh hưởng chính trị của nhà Hán, hang tơ lụa tuyệt đẹp của Trung Quốc cũng ngày càng trở nên hấp dẫn đối với nước ngoài, các nước từ khu vực Dong Nam Á, Nam Á, cho đến Tây Á, châu Âu lần lượt phái sứ đoàn vượt biên đến bang giao với Trung Quốc. Các sản pham thổ sản quý hiếm như: ngọc trai, hương liệu, các loại đá quý.
được mang đến Trung Quốc dé đôi lấy hàng tơ lụa. Có thé nói, vào thời Han, tơ lụa Trung Quốc qua đường biên được vận chuyên ra nước ngoai không chỉ mang tính chất hàng hoá mà đã trở thành lễ vật trao đổi, do vậy, giá trị va tác dụng của tơ lụa ngày một lớn, thậm chí vượt qua cả vàng bạc. Thông qua * mau địch triều công”, tơ lụa Trung Quốc - vừa là lễ phẩm vừa là thương phẩm, đã trở thành biéu tượng của hoa bình vả tình hữu nghị. Việc khai thông con đường tơ lụa trên biên đã phản ánh sự phát triển của sức sản xuất xã hội, kỹ thuật hàng hải và thương mại đường bién của Trung Quốc trong thời Hán.