Luận án tiến sĩ ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn gdtc cho sinh viên trường đại học tài chính marketing

Chuyên đề Ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh trong giáo dục thể chất tại trường đại học tài trình bày khoa học, dễ hiểu, dễ áp dụng

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

331
25
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh trong GDTC

Phương pháp học tập tự điều chỉnh đang trở thành một xu hướng quan trọng trong giáo dục thể chất tại các trường đại học, đặc biệt là Trường Đại học Tài chính - Marketing. Phương pháp này không chỉ giúp sinh viên nâng cao hiệu quả học tập mà còn phát triển các kỹ năng tự học, tự quản lý thời gian và động lực học tập. Theo nghiên cứu của Nguyễn Trương Phương Uyên (2019), việc áp dụng phương pháp này đã mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên trong việc cải thiện thành tích học tập và phát triển cá nhân.

1.1. Khái niệm về phương pháp học tập tự điều chỉnh

Phương pháp học tập tự điều chỉnh là quá trình mà sinh viên tự quản lý việc học của mình thông qua việc thiết lập mục tiêu, theo dõi tiến trình và điều chỉnh các chiến lược học tập. Điều này giúp sinh viên phát triển khả năng tự học và tự đánh giá hiệu quả học tập của bản thân.

1.2. Lợi ích của phương pháp học tập tự điều chỉnh trong GDTC

Việc áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh trong giáo dục thể chất giúp sinh viên nâng cao khả năng tự quản lý, từ đó cải thiện hiệu quả học tập. Sinh viên có thể tự điều chỉnh các hoạt động thể chất phù hợp với nhu cầu và khả năng của bản thân, từ đó phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh

Mặc dù phương pháp học tập tự điều chỉnh mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng nó trong giáo dục thể chất cũng gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt về kỹ năng tự học của sinh viên. Nhiều sinh viên chưa quen với việc tự quản lý việc học của mình, dẫn đến việc không đạt được hiệu quả như mong muốn.

2.1. Thiếu kỹ năng tự học ở sinh viên

Nhiều sinh viên chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng tự học, điều này ảnh hưởng đến khả năng áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh. Việc thiếu kỹ năng này có thể dẫn đến việc sinh viên không biết cách thiết lập mục tiêu học tập và theo dõi tiến trình của mình.

2.2. Khó khăn trong việc duy trì động lực học tập

Động lực học tập là yếu tố quan trọng trong việc áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh. Tuy nhiên, nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc duy trì động lực, đặc biệt là trong các môn học thể chất, nơi yêu cầu sự kiên trì và nỗ lực cao.

III. Phương pháp và giải pháp chính để áp dụng hiệu quả

Để áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh một cách hiệu quả trong giáo dục thể chất, cần có những giải pháp cụ thể. Việc đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên là rất cần thiết. Ngoài ra, giảng viên cũng cần hỗ trợ sinh viên trong việc thiết lập mục tiêu và theo dõi tiến trình học tập.

3.1. Đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên

Đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên là một trong những giải pháp quan trọng. Các chương trình đào tạo có thể bao gồm các buổi hướng dẫn về cách thiết lập mục tiêu, theo dõi tiến trình và điều chỉnh chiến lược học tập.

3.2. Hỗ trợ từ giảng viên trong quá trình học tập

Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh. Họ có thể cung cấp phản hồi và hướng dẫn cho sinh viên trong việc thiết lập mục tiêu và theo dõi tiến trình học tập.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Trường Đại học Tài chính Marketing

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh đã mang lại những cải thiện rõ rệt trong thành tích học tập của sinh viên tại Trường Đại học Tài chính - Marketing. Sinh viên không chỉ đạt được kết quả tốt hơn trong các môn học thể chất mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết cho cuộc sống.

4.1. Kết quả thực nghiệm từ chương trình học

Chương trình thực nghiệm áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh đã cho thấy sự cải thiện đáng kể trong điểm số và sự hài lòng của sinh viên. Nhiều sinh viên đã báo cáo rằng họ cảm thấy tự tin hơn trong việc quản lý việc học của mình.

4.2. Phản hồi từ sinh viên về phương pháp học tập

Phản hồi từ sinh viên cho thấy họ đánh giá cao phương pháp học tập tự điều chỉnh. Nhiều sinh viên cho biết họ cảm thấy có động lực hơn và có khả năng tự quản lý việc học tốt hơn sau khi áp dụng phương pháp này.

V. Kết luận và tương lai của phương pháp học tập tự điều chỉnh trong GDTC

Phương pháp học tập tự điều chỉnh có tiềm năng lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại các trường đại học. Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy phù hợp sẽ giúp sinh viên phát triển toàn diện hơn. Tương lai của giáo dục thể chất sẽ phụ thuộc vào khả năng áp dụng hiệu quả các phương pháp học tập hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát triển phương pháp học tập

Việc phát triển và áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh là rất quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Nó không chỉ giúp sinh viên nâng cao thành tích học tập mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.

5.2. Hướng đi tương lai cho giáo dục thể chất

Tương lai của giáo dục thể chất sẽ cần đến sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy. Việc áp dụng công nghệ và các phương pháp học tập hiện đại sẽ giúp sinh viên phát triển toàn diện hơn.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng về TDTT, chiến lược phát triển TDTT nước ta từ nay đến năm 2020 Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng… Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam (Chỉ thị số 106-CT/TW ngày 02 tháng 10 năm 1958 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác TDTT) và cũng là lời khuyến cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Dân cường nước thịnh”. Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành thể dục, thể thao nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này.

(Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 về việc phê duyệt chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020) [31] Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau: - Thể dục, thể thao cho mọi người: Thể dục, thể thao quần chúng; GDTC và thể thao trong nhà trường; Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang. - Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp. - Ủy ban Olympic Việt Nam và tổ chức xã hội – nghề nghiệp về thể thao. Nghị quyết của Bộ chính trị - Nghị quyết 08-NQ/TW vào ngày 01 tháng 12 năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020.

[2]  Quan điểm - Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội (XH), nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị luan an 6 và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức XH và của mỗi người dân. Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dục, thể thao, bảo đảm cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển. - Đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của XH để phát triển thể dục, thể thao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức XH trong quản lý, điều hành các hoạt động thể dục, thể thao.

- Gìn giữ, tôn vinh những giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh. - Phát triển đồng bộ thể dục, thể thao trong trường học, trong lực lượng vũ trang, ở xã, phường, thị trấn cùng với phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp. - Thực hiện XH hóa các hoạt động thể dục thể thao, kết hợp việc kinh doanh thể dục, thể thao với công tác cung ứng dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về thể dục, thể thao.

[2], [10]  Mục tiêu  Mục tiêu tổng quát: Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2020 nhằm xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển.  Mục tiêu cụ thể: Tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể dục, thể thao giải trí đáp ứng nhu cầu giải trí của XH và tạo thói quen hoạt động, vận động hợp lý suốt đời. Đẩy mạnh công tác GDTC và thể thao trường học, bảo đảm yêu cầu phát triển con người toàn diện, làm nền tảng phát triển thể thao thành tích cao luan an 7 và góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớp thanh – thiếu niên. Tích cực phát triển thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng toàn dân.

[2], [10]  Nhiệm vụ  Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa. - Cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng kết hợp thể dục, thể thao với hoạt động giải trí, chú trọng nhu cầu tự chọn của học sinh. Xây dựng chương trình GDTC kết hợp với GDQP; kết hợp đồng bộ y tế học đường với dinh dưỡng học đường; - Xây dựng hệ thống các trường, lớp năng khiếu thể thao, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài thể thao cho quốc gia.  Phát triển hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa.

- Xây dựng các loại hình câu lạc bộ thể dục, thể thao trường học; khuyến khích học sinh dành thời gian từ 2 – 3 giờ/tuần để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu thể thao. Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu thể dục, thể thao giải trí thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương; - Phổ cập dạy và học bơi đối với học sinh hệ phổ thông và mầm non; đảm bảo 100% trường phổ thông đưa môn bơi vào chương trình ngoại khóa; chú trọng hỗ trợ các địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung; - Tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện Quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo có cơ sở vật chất đáp ứng hoạt động thể dục, thể thao trường học theo quy chuẩn quốc gia.  Ban hành Nghị định về phát triển GDTC và hoạt động thể thao trường học. - Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục, thể thao; đẩy mạnh huy động các nguồn xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong các cơ sở giáo dục, đào tạo.

Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện thể dục, thể thao, hướng dẫn viên thể dục, thể thao cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước; - Tiến hành điều tra khảo sát thực trạng thể dục, thể thao trường học, thể chất và sức khỏe của học sinh theo định kỳ 5 – 10 năm/lần; ban hành chế độ kiểm tra, đánh giá luan an 8 định kỳ thể chất và sức khỏe học sinh; - Tăng cường công tác đào tạo giáo viên thể dục, thể thao, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho hướng dẫn viên thể dục, thể thao. Ban hành quy chế hỗ trợ đối với các cán bộ, chuyên gia về thể dục, thể thao, trực tiếp tham gia hướng dẫn hoạt động ngoại khóa hoặc hỗ trợ giảng dạy chính khóa… tại các trường thuộc hệ thống giáo dục phổ thông và mẫu giáo; - Ban hành các chính sách huy động, khuyến khích các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp tham gia tài trợ hoạt động thi đấu thể dục, thể thao trong trường học; - Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong GDTC và hoạt động thể thao trường học; phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong chỉ đạo, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao trường học. - Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học”. Các định nghĩa, khái niệm về GDTC 1.

Khái niệm GDTC GDTC là quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng, mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm nhằm hoàn thiện thể chất, nhân cách, năng lực vận động và nâng cao khả năng làm việc và khéo dài tuổi thọ của con người. [26], [27] Nguyễn Toán đã khái niệm: “GDTC là một bộ phận của TDTT. GDTC còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường)… GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người. Khái niệm phát triển GDTC Thể chất là chỉ chất lượng của con người.

Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện). luan an 9  Giờ học GDTC Giờ học GDTC là quá trình sư phạm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng, nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng hoàn thiện thể chất, nhân cách, năng lực vận động cho học sinh, sinh viên, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện trong nhà trường. Đặc thù giờ học thực hành kỹ thuật của môn học GDTC, các học phần mang tính hỗn hợp cả lý thuyết và thực hành kỹ thuật chuyên ngành, không mang tính chất thực hành đơn thuần. [26], [27]  Chương trình môn học GDTC Chương trình GDTC là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức và phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của các cơ sở Giáo dục & Đào tạo.

Chương trình môn học là văn bản nhà nước đối với từng môn học về: mục tiêu, yêu cầu, nội dung, khối lượng kiến thức và kỹ năng, kế hoạch phân bổ, thời lượng kiến thức, phương thức thích hợp, phương tiện tương ứng theo từng cấp học, bậc học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong môn giáo dục thể chất tại trường đại học tài chính marketing" của tác giả Nguyễn Trương Phương Uyên, dưới sự hướng dẫn của PTS. Lý Vĩnh Trường và PTS. Lê Anh Thơ, tập trung vào việc áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh trong giáo dục thể chất tại Trường Đại Học Tài Chính Marketing. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cách thức sinh viên có thể tự quản lý và điều chỉnh quá trình học tập của mình, mà còn chỉ ra những lợi ích của việc này trong việc nâng cao hiệu quả học tập và phát triển kỹ năng cá nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ phục vụ sinh viên tại trường đại học ngoại thương, nơi khám phá sự hài lòng của sinh viên trong môi trường học tập, hay Luận án tiến sĩ về dạy học tâm lý học du lịch và phát triển năng lực tự học cho sinh viên, nghiên cứu về phát triển năng lực tự học trong một lĩnh vực khác. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc nâng cao năng lực học tập của sinh viên, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp học tập hiệu quả.