Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ giáo dục học với đề tài "Ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn GDTC cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trương Phương Uyên thực hiện tại Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của cán bộ hướng dẫn Lý Vĩnh Trường và Lê Anh Thơ. Công trình thuộc chuyên ngành Giáo dục học, mã số 9140101.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ sự thay đổi căn bản trong giáo dục đại học hiện đại: chuyển dịch từ quan niệm "học tập chỉ trong một thời gian nhất định" sang "học thường xuyên, liên tục, học suốt đời", lấy tự học làm nền tảng. Ở bậc đại học, sinh viên đã phát triển tư duy tương đối hoàn chỉnh, do đó nhiệm vụ trọng tâm trong giảng dạy là dạy cho người học phương pháp học tập độc lập và đánh thức động lực nội tại. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: mặc dù các lý thuyết và mô hình học tập tự điều chỉnh đã được nghiên cứu và chứng minh hiệu quả rộng rãi trên thế giới trong lĩnh vực giáo dục nói chung và thể thao thành tích cao nói riêng, nhưng việc áp dụng trong các lớp học môn Giáo dục thể chất (GDTC) tại các trường đại học, cao đẳng không chuyên ở Việt Nam còn rất hạn chế. Phần lớn các chương trình GDTC tại các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm Trường Đại học Tài chính – Marketing, vẫn chủ yếu áp dụng phương pháp giảng dạy truyền thống mang tính một chiều, lấy giảng viên làm trung tâm.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và đánh giá thực trạng giảng dạy và học tập môn GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing và một số trường đại học không chuyên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; qua đó xây dựng và thực nghiệm chương trình ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn GDTC nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn GDTC cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản luận án:

  • Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng giảng dạy và học tập môn GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing và một số trường đại học không chuyên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  • Mục tiêu 2: Xây dựng chương trình thực nghiệm ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn GDTC cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing.
  • Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn GDTC trong chương trình thực nghiệm cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing.

Giả thuyết khoa học của đề tài xác định: Trên cơ sở đánh giá thực trạng về công tác giảng dạy và học tập môn GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing để chứng minh những hạn chế còn tồn tại về phương pháp học tập hiện nay, nghiên cứu xây dựng và ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên có thể nâng cao chất lượng học tập môn GDTC, đạt được sự hài lòng và đạt kết quả cao sau khi kết thúc môn học cho sinh viên, đồng thời góp phần cải tiến phương pháp dạy và học tốt hơn so với phương pháp học tập truyền thống tại nhà trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp học tập tự điều chỉnh của sinh viên trong học tập môn GDTC.
  • Phạm vi và khách thể nghiên cứu: Thực nghiệm phương pháp học tập tự điều chỉnh trong học phần tự chọn môn Bóng rổ cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing.
  • Thời gian thực nghiệm: Được tiến hành qua hai đợt thực nghiệm trong năm 2017 (đợt 1 vào học kỳ đầu năm 2017 và đợt 2 vào học kỳ cuối năm 2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lý luận và thực nghiệm trong nước cũng như quốc tế liên quan đến học tập tự điều chỉnh, giáo dục thể chất và tâm lý học đường:

  • Nghiên cứu về cơ sở lý thuyết học tập tự điều chỉnh và động lực học tập: Tác giả điểm lại các công trình nền tảng về bản chất của tự điều chỉnh của Zimmerman (1989, 1990), Zimmerman & Martinez-Pons (1986, 1988), Schunk (1986, 1996), Pintrich (1995, 1999), Pintrich và cộng sự (1993), Cheng (2001), Lin & Chen (1995). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng tự điều chỉnh là sự tích hợp giữa niềm tin động lực ("nỗ lực") và việc sử dụng các chiến lược nhận thức, siêu nhận thức và quản lý tiềm năng ("kỹ năng") theo quan điểm của Garcia (1995). Karoly (1993) định nghĩa tự điều chỉnh là việc duy trì và kích hoạt nhận thức, hành vi và động lực cá nhân để đạt được mục tiêu định hướng.
  • Nghiên cứu về nhận thức xã hội và các thành tố tâm lý: Dựa trên các công trình của Bandura (1982, 1986, 1991, 1997) về sự tự hiệu quả (self-efficacy), tự củng cố (Bandura & Kupers, 1964), tự đánh giá (Bandura & Cervone, 1983); lý thuyết thiết lập mục tiêu của Locke (1968), Locke & Latham (1985), Gould (1983), Austin (1989), Hollenbeck & Brief (1987), Kane và cộng sự (1996); lý thuyết ý chí và kiểm soát hành động của Kuhl (1984); lý thuyết quy kết nhân quả của Weiner (1979); hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của Butler & Newman (1995).
  • Nghiên cứu ứng dụng tự điều chỉnh trong lĩnh vực thể dục thể thao và GDTC: Các công trình nghiên cứu trong thể thao thành tích cao của Anshel & Porter (1996), Kitsantas & Zimmerman (1998, 2002), Nietfeld (2003), Cleary & Zimmerman (2001). Nghiên cứu về động lực và hành vi hoạt động thể chất của trẻ em và thanh thiếu niên của Nahas và cộng sự (2003), Ommundsen (2003), Weiss (1993a), Weiss & Duncan (1992), Horn & Harris (1996), Rowland & Freedson (1994), Brustad (1993), Smith & Smoll (1996), Huang (1995).
  • Nghiên cứu so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học đổi mới: Tác giả tổng hợp luận điểm từ Chang (1998), Zhou (1994), Fang (1998), Siedentop (1992) nhằm làm rõ sự khác biệt giữa phương pháp lấy giảng viên làm trọng tâm và phương pháp lấy sinh viên làm trọng tâm.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu GDTC tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc rèn luyện tố chất thể lực hoặc kỹ thuật động tác đơn thuần, ít chú trọng đến phương pháp học tập và trải nghiệm tâm lý của người học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng và kiểm định một quy trình giảng dạy ứng dụng mô hình học tập tự điều chỉnh cụ thể vào môn học GDTC tự chọn tại trường đại học không chuyên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và mô hình áp dụng

Luận án vận dụng các lý thuyết tâm lý học giáo dục và nhận thức xã hội để xây dựng khung phân tích:

  1. Lý thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura (1986, 1991): Khẳng định cơ chế tự điều chỉnh gồm ba tiểu trình tương tác: tự quan sát (tự theo dõi), tự đánh giá (so sánh hiện trạng với tiêu chuẩn mục tiêu) và tự phản ứng (phản ứng cảm xúc, động lực và sự thích ứng).
  2. Hệ thống 15 chiến lược học tập tự điều chỉnh của Zimmerman & Martinez-Pons (1986): Bao gồm tự đánh giá, tổ chức và chuyển đổi, thiết lập mục tiêu và lên kế hoạch, tìm kiếm thông tin, lưu trữ hồ sơ và giám sát, tạo kết cấu môi trường, tự liệu kết quả, tập luyện và ghi nhớ, tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè/giảng viên/người lớn, đánh giá hồ sơ và các chiến lược khác.
  3. Mô hình chu kỳ 3 giai đoạn của Zimmerman (2000): Gồm Giai đoạn suy tính trước (Forethought: phân tích nhiệm vụ, thiết lập mục tiêu, hoạch định chiến lược, niềm tin tự tạo động lực), Giai đoạn kiểm soát thực hiện (Performance: tự kiểm soát, tự quan sát) và Giai đoạn tự phản ánh (Self-reflection: tự đánh giá, quy kết nhân quả, sự tự hài lòng, suy luận thích ứng/phòng thủ).
  4. Mô hình học tập tự điều chỉnh 4 giai đoạn của Zimmerman, Bonner & Kovach (1996): Luận án lựa chọn mô hình này để áp dụng vào thực nghiệm sư phạm môn GDTC bóng rổ vì đối tượng sinh viên đại học không chuyên là những người mới bắt đầu, cần có sự hướng dẫn và phản hồi liên tục của giảng viên. Chu trình 4 giai đoạn gồm:
    • Giai đoạn 1: Tự đánh giá và theo dõi (Self-evaluation and monitoring).
    • Giai đoạn 2: Thiết lập mục tiêu và lập kế hoạch chiến lược (Goal setting and strategic planning).
    • Giai đoạn 3: Triển khai và theo dõi chiến lược (Strategy-implementation and monitoring).
    • Giai đoạn 4: Theo dõi kết quả chiến lược và tinh chỉnh kế hoạch (Strategic-outcome monitoring and plan refining).
Lý thuyết / Mô hình Tác giả Nội dung cốt lõi ứng dụng trong luận án
Thuyết Nhận thức xã hội Bandura (1986, 1997) Giải thích sự tự hiệu quả (self-efficacy), niềm tin động lực và cơ chế tự giám sát, tự phản ứng.
15 Chiến lược tự điều chỉnh Zimmerman & Martinez-Pons (1986) Khung chiến lược làm cơ sở thiết kế hành vi học tập và các phiếu tự theo dõi cho sinh viên.
Mô hình chu kỳ 3 giai đoạn Zimmerman (2000) Cung cấp cơ sở lý luận về mối quan hệ tuần hoàn giữa suy tính trước, thực hiện và tự phản ánh.
Mô hình vòng tròn 4 giai đoạn Zimmerman, Bonner & Kovach (1996) Khung thực nghiệm trực tiếp trong giảng dạy kỹ thuật bóng rổ cho sinh viên nhóm thực nghiệm.
Thuyết Thiết lập mục tiêu Locke & Latham (1985) Hướng dẫn sinh viên thiết lập mục tiêu quá trình, mục tiêu kết quả, mục tiêu ngắn hạn và dài hạn.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng với 5 phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu: Phân tích các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 08-NQ/TW), quyết định của Chính phủ (Quyết định 2198/QĐ-TTg), các văn bản quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình GDTC 3 tín chỉ, cùng tài liệu lý luận GDTC và tâm lý học giáo dục.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi khảo sát sinh viên và giảng viên nhằm đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, đặc điểm sinh viên, trải nghiệm học tập và sự hài lòng.
  • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến, phỏng vấn các chuyên gia, giảng viên GDTC để hoàn thiện hệ thống thang đo và thẩm định khung chương trình thực nghiệm 4 giai đoạn.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại Trường Đại học Tài chính – Marketing trên môn học phần GDTC tự chọn Bóng rổ. Thực nghiệm chia thành hai đợt độc lập: Đợt 1 (học kỳ đầu năm 2017) và Đợt 2 (học kỳ cuối năm 2017), mỗi đợt đều bố trí nhóm thực nghiệm (áp dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh) và nhóm đối chứng (áp dụng phương pháp truyền thống), có phân tích tách biệt theo giới tính nam và nữ.
  • Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu định lượng thông qua:
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (sơ bộ và chính thức).
    • Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) kiểm tra tính hợp lệ của cấu trúc thang đo kết hợp kiểm định KMO và Bartlett.
    • Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) kiểm tra độ giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các mô hình thang đo.
    • Kiểm định Independent-Samples T-test để so sánh giá trị trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng về các biến tâm lý, trải nghiệm học tập, sự hài lòng và điểm thi kết thúc môn bóng rổ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ:

  • Khảo sát thực trạng tại Trường Đại học Tài chính – Marketing và một số trường đại học không chuyên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  • Mẫu điều tra định lượng phục vụ xây dựng, kiểm định thang đo và khảo sát thực trạng.
  • Dữ liệu thực nghiệm sư phạm thu thập từ các phiếu tự theo dõi học tập, phiếu khảo sát trải nghiệm, sự hài lòng và bảng điểm thi kết thúc môn học phần bóng rổ của sinh viên các nhóm thực nghiệm và đối chứng trong năm 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 tập trung trình bày cơ sở lý luận và pháp lý liên quan đến GDTC đại học và phương pháp học tập tự điều chỉnh:

  • Quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước về TDTT: Hệ thống hóa các văn bản pháp lý như Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị, Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020. Tác giả nhấn mạnh mục tiêu nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, xây dựng lối sống lành mạnh và thực hiện xã hội hóa TDTT trường học.
  • Các khái niệm cốt lõi: Làm rõ định nghĩa về GDTC, phát triển GDTC, giờ học GDTC, chương trình môn học GDTC (tối thiểu 3 tín chỉ theo quy định giáo dục đại học), mục đích và nhiệm vụ của GDTC trong việc giáo dục đạo đức, thể lực, lối sống và kỹ năng vận động.
  • Cơ sở lý thuyết về phương pháp học tập tự điều chỉnh: Đi sâu phân tích sự tiến hóa của lý thuyết tự điều chỉnh qua 4 trường phái chính: Điều kiện hóa từ kết quả (hành vi), Phát triển nhận thức, Nhận thức xã hội và Xử lý thông tin (dựa trên tổng hợp của Zimmerman, 1989b và Schunk, 1996).
  • So sánh phương pháp dạy học truyền thống và dạy học tự điều chỉnh: Tác giả trích dẫn bảng so sánh của Fang (1998) nhằm chỉ ra sự khác biệt toàn diện giữa hai mô hình:
Tiêu chí so sánh Phương pháp học tập truyền thống Phương pháp học tập tự điều chỉnh
Đặc điểm trọng tâm Lấy giảng viên làm trọng tâm Lấy sinh viên làm trọng tâm
Hình thức tổ chức nhiệm vụ Cả lớp Theo nhóm
Lập kế hoạch Cả lớp Theo nhóm
Phương thức đánh giá Đánh giá chuẩn Tự đánh giá
Phong cách giảng dạy Mô tả và giải thích (giảng viên làm trung tâm) Đánh giá, theo dõi và tư vấn (sinh viên làm trung tâm)
Phong cách học tập Làm theo và chú ý lắng nghe (học tập thụ động) Nhận thức, siêu nhận thức và động lực (học tập chủ động)
Hình thức tương tác Giảng viên tương tác với một số sinh viên Giảng viên tương tác toàn bộ sinh viên; tương tác sinh viên – sinh viên
Môi trường học tập Cả lớp, tác động trước do giảng viên Nhóm, tác động trước do sinh viên
Quá trình ra quyết định Giảng viên quyết định tác động và sau tác động Sinh viên quyết định tác động và sau tác động
  • Phân tích mô hình tự điều chỉnh: Trình bày chi tiết mô hình 3 giai đoạn của Zimmerman (2000) và làm rõ lý do chuyển giao mô hình vòng tròn 4 giai đoạn của Zimmerman, Bonner & Kovach (1996) vào môn GDTC bóng rổ cho đối tượng sinh viên mới tiếp cận môn học.
  • Các khái niệm tâm lý liên quan: Khái niệm về nỗ lực, động cơ, động lực học tập, lý thuyết về sự hài lòng, các hiện tượng điều chỉnh không thích ứng (tự gây trở ngại, trì hoãn, bi quan phòng thủ), đặc điểm phát triển thể chất và tâm lý của sinh viên đại học, cùng lịch sử hình thành Khoa GDQP & GDTC Trường Đại học Tài chính – Marketing (thành lập từ tháng 1/2014, tách bộ môn GDTC vào tháng 6/2014).

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, thiết kế công cụ và quy trình triển khai nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu: Thiết lập 5 phương pháp gồm nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học, chuyên gia, thực nghiệm sư phạm và thống kê toán học.
  • Tổ chức nghiên cứu: Luận án xác định rõ đối tượng nghiên cứu, phạm vi, khách thể nghiên cứu và địa điểm tiến hành tại Trường Đại học Tài chính – Marketing cùng một số trường đại học không chuyên tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Quy trình xây dựng công cụ đo lường: Xây dựng quy trình gồm 2 bước: kiểm tra sơ bộ (kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha) và kiểm tra chính thức (Cronbach's Alpha lần 1, lần 2, kiểm định KMO, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích nhân tố khẳng định CFA) đối với 3 nhóm cấu trúc:
    1. Thang đo Đặc điểm sinh viên trong lớp học GDTC (gồm 3 thành tố: Sự tự nhận thức, Định hướng mục tiêu, Tự hiệu quả).
    2. Thang đo Trải nghiệm học tập của sinh viên trong lớp học GDTC.
    3. Thang đo Sự hài lòng của sinh viên sau khi kết thúc lớp học GDTC.
  • Kế hoạch thực nghiệm: Thiết kế khung thời gian thực nghiệm sư phạm, phân chia nhóm thực nghiệm và đối chứng, xác định tiến trình giảng dạy chi tiết kết hợp sử dụng phiếu tự theo dõi học tập và thang đánh giá theo mô hình 4 giai đoạn.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Chương 3 trình bày các kết quả thu được từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm:

  1. Kết quả xây dựng và chuẩn hóa thang đo:

    • Kết quả kiểm định sơ bộ và chính thức cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha qua các lần kiểm tra (Bảng 3.1 đến 3.22).
    • Phân tích EFA xác nhận tính hội tụ của các biến quan sát vào từng nhân tố thành phần với hệ số KMO phù hợp và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Bảng 3.23 đến 3.33).
    • Phân tích CFA (Hình 3.1 đến 3.5; Bảng 3.34 đến 3.43) khẳng định mô hình đo lường đạt độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích và giá trị phân biệt đối với các thang đo: Sự tự nhận thức, Định hướng mục tiêu, Tự hiệu quả, Trải nghiệm học tập và Sự hài lòng.
  2. Thực trạng giảng dạy và học tập GDTC:

    • Chương trình giảng dạy: Thống kê các học phần GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing (Bảng 3.44, 3.45) và so sánh với các trường đại học không chuyên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (Bảng 3.46).
    • Cơ sở vật chất và sân bãi: Khảo sát thực trạng sân bãi, dụng cụ tập luyện tại trường còn nhiều hạn chế, thiếu thốn so với yêu cầu đào tạo tín chỉ (Bảng 3.47, 3.48).
    • Đội ngũ giảng viên: Khảo sát cơ cấu trình độ học vấn và thâm niên công tác của đội ngũ giảng viên GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing và các trường bạn (Bảng 3.49 đến 3.52; Biểu đồ 3.1 đến 3.4).
    • Nhận thức, trải nghiệm và sự hài lòng của sinh viên: Dữ liệu khảo sát thực trạng (Bảng 3.53 đến 3.57) phản ánh sinh viên theo học phương pháp truyền thống có mức độ tự nhận thức, tự hiệu quả và sự hài lòng ở mức trung bình, thiếu chủ động trong việc tự thiết lập mục tiêu và quản lý quá trình luyện tập.
  3. Xây dựng chương trình thực nghiệm:

    • Hoàn thiện chương trình thực nghiệm môn bóng rổ dựa trên kết quả phỏng vấn chuyên gia và giảng viên (Bảng 3.59, 3.61, 3.62).
    • Xác lập tiến trình giảng dạy chi tiết theo vòng tròn 4 giai đoạn của Zimmerman và cộng sự (1996), tích hợp phiếu theo dõi tự đánh giá, phân tích nhiệm vụ và điều chỉnh kỹ thuật vận động (Bảng 3.60, 3.63).
  4. Đánh giá hiệu quả chương trình thực nghiệm qua 2 đợt (năm 2017):

    • Thực nghiệm lần 1 (học kỳ đầu năm 2017):
      • Kiểm định Independent-Samples T-test (Bảng 3.64, 3.65; Biểu đồ 3.5, 3.6, 3.7) chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng về các thang đo tâm lý, trải nghiệm học tập và sự hài lòng (ở cả nhóm nam và nữ).
      • Điểm trung bình thi kết thúc môn bóng rổ của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (Bảng 3.66, 3.67; Biểu đồ 3.8).
    • Thực nghiệm lần 2 (học kỳ cuối năm 2017):
      • Tiếp tục khẳng định tính hiệu quả ổn định: nhóm thực nghiệm đạt giá trị trung bình vượt trội ở các thang đo tâm lý, trải nghiệm học tập và sự hài lòng so với nhóm đối chứng (Bảng 3.68, 3.69; Biểu đồ 3.9, 3.10, 3.11).
      • Điểm thi kết thúc môn bóng rổ của nhóm thực nghiệm tiếp tục cao hơn nhóm đối chứng một cách có ý nghĩa thống kê (Bảng 3.70, 3.71; Biểu đồ 3.12).
    • So sánh giữa hai lần thực nghiệm và tổng hợp kiểm định:
      • So sánh giữa nhóm thực nghiệm lần 1 và lần 2 cho thấy kết quả phát triển ổn định của phương pháp (Bảng 3.72 đến 3.75; Biểu đồ 3.13 đến 3.16).
      • So sánh giữa nhóm đối chứng lần 1 và lần 2 phản ánh sự tương đồng, không có đột biến nếu duy trì cách dạy truyền thống (Bảng 3.76 đến 3.79; Biểu đồ 3.17 đến 3.20).
      • Bảng tổng hợp kiểm định Independent-Samples T-test (Bảng 3.80) chứng minh việc ứng dụng phương pháp tự điều chỉnh tạo ra sự cải thiện đồng bộ ở cả nhận thức, trải nghiệm học tập, sự hài lòng và thành tích học tập môn bóng rổ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và chuyển giao thành công khung lý thuyết học tập tự điều chỉnh (vốn phổ biến trong các môn học thuật và thể thao thành tích cao) vào môi trường giảng dạy môn GDTC đại học không chuyên tại Việt Nam.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa được bộ công cụ đo lường gồm các thang đo: Đặc điểm sinh viên trong lớp học GDTC (Sự tự nhận thức, Định hướng mục tiêu, Tự hiệu quả), Trải nghiệm học tập và Sự hài lòng của sinh viên sau khi kết thúc môn học GDTC thông qua các quy trình kiểm định thống kê toán học chặt chẽ (Cronbach's Alpha, EFA, CFA).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Đánh giá toàn diện thực trạng giảng dạy, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và thực trạng học tập môn GDTC tại Trường Đại học Tài chính – Marketing và một số trường đại học không chuyên tại TP. Hồ Chí Minh.
  2. Thiết kế và vận hành thành công tiến trình giảng dạy môn GDTC tự chọn Bóng rổ theo mô hình học tập tự điều chỉnh 4 giai đoạn của Zimmerman, Bonner & Kovach (1996), cung cấp hệ thống phiếu tự theo dõi giúp sinh viên tự đánh giá, tự lập kế hoạch và điều chỉnh chiến lược luyện tập.
  3. Chứng minh qua thực nghiệm sư phạm 2 đợt độc lập (học kỳ đầu và học kỳ cuối năm 2017) rằng phương pháp học tập tự điều chỉnh nâng cao rõ rệt trải nghiệm học tập, mức độ tự hiệu quả, sự hài lòng và thành tích thi kết thúc môn bóng rổ của sinh viên so với phương pháp truyền thống.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với nhà trường và Bộ môn GDTC: Đưa phương pháp học tập tự điều chỉnh vào chương trình giảng dạy chính thức, từng bước mở rộng áp dụng sang các học phần môn thể thao tự chọn khác tại Trường Đại học Tài chính – Marketing.
  • Đối với đội ngũ giảng viên: Đổi mới vai trò giảng viên từ truyền thụ một chiều sang người hướng dẫn, tư vấn, theo dõi và phản hồi; hỗ trợ sinh viên sử dụng hiệu quả phiếu tự theo dõi và kỹ năng thiết lập mục tiêu.
  • Đối với cơ sở vật chất và quản lý: Tăng cường đầu tư trang thiết bị, sân bãi tập luyện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ; định kỳ khảo sát trải nghiệm và sự hài lòng của sinh viên để hoàn thiện chương trình đào tạo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do điều kiện nghiên cứu, phạm vi thực nghiệm sư phạm của luận án mới chỉ tiến hành trên một môn thể thao tự chọn cụ thể là Bóng rổ và giới hạn đối tượng khách thể tại Trường Đại học Tài chính – Marketing trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thực nghiệm phương pháp học tập tự điều chỉnh sang các môn học phần GDTC tự chọn khác như Bóng chuyền, Cầu lông, Điền kinh, Bơi lội...
    • Triển khai áp dụng và so sánh đối chiếu tại nhiều trường đại học, cao đẳng thuộc các khối ngành đào tạo khác nhau trên phạm vi cả nước.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại các giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Giáo dục học, Lý luận và Phương pháp giảng dạy TDTT: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa tâm lý học giáo dục và thực nghiệm sư phạm TDTT; quy trình chuẩn hóa thang đo bằng Cronbach's Alpha, EFA, CFA và phân tích Independent-Samples T-test.
  • Giảng viên bộ môn GDTC tại các trường đại học, cao đẳng: Tham khảo trực tiếp khung chương trình giảng dạy 4 giai đoạn, cách thức tổ chức hoạt động học tập theo nhóm, biểu mẫu phiếu tự theo dõi và phương pháp hướng dẫn sinh viên tự thiết lập mục tiêu luyện tập.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và các nhà hoạch định chính sách TDTT trường học: Có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng chương trình GDTC theo định hướng phát triển năng lực tự học, tự rèn luyện thể chất suốt đời của sinh viên theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình học tập tự điều chỉnh cụ thể nào được tác giả lựa chọn để xây dựng chương trình thực nghiệm và vì sao?

Tác giả lựa chọn mô hình vòng tròn 4 giai đoạn của Zimmerman, Bonner & Kovach (1996) gồm: (1) Tự đánh giá và theo dõi, (2) Thiết lập mục tiêu và lập kế hoạch chiến lược, (3) Triển khai và theo dõi chiến lược, (4) Theo dõi kết quả chiến lược và tinh chỉnh kế hoạch. Mô hình này được chọn vì sinh viên học GDTC không chuyên chủ yếu là người mới bắt đầu tập luyện, cần có sự can thiệp, phản hồi và hướng dẫn liên tục của giảng viên, khác với mô hình 3 giai đoạn của Zimmerman (2000) vốn phù hợp hơn cho các lớp học thuật hoặc vận động viên cấp cao.

2. Hệ thống thang đo nghiên cứu trong luận án bao gồm những nhóm thành tố chính nào?

Hệ thống thang đo được tác giả xây dựng và kiểm định qua EFA, CFA bao gồm 3 nhóm chính:

  • Thang đo Đặc điểm sinh viên trong lớp học GDTC: gồm Sự tự nhận thức, Định hướng mục tiêu và Tự hiệu quả (Self-efficacy).
  • Thang đo Trải nghiệm học tập của sinh viên trong lớp học GDTC.
  • Thang đo Sự hài lòng của sinh viên sau khi kết thúc lớp học GDTC.

3. Chương trình thực nghiệm sư phạm được tổ chức tại đâu và trong khoảng thời gian nào?

Chương trình thực nghiệm được tổ chức trên học phần GDTC tự chọn Bóng rổ cho sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing tại TP. Hồ Chí Minh, thực hiện qua hai đợt độc lập trong năm 2017: đợt 1 diễn ra vào học kỳ đầu năm 2017 và đợt 2 diễn ra vào học kỳ cuối năm 2017.

4. Kết quả thực nghiệm sư phạm qua kiểm định T-test chứng minh điều gì?

Kết quả kiểm định Independent-Samples T-test qua cả 2 đợt thực nghiệm cho thấy nhóm sinh viên học theo phương pháp tự điều chỉnh đạt điểm trung bình cao hơn rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống ở tất cả các chỉ số: mức độ tự nhận thức, định hướng mục tiêu, tính tự hiệu quả, trải nghiệm học tập tích cực, sự hài lòng và điểm thi kết thúc môn bóng rổ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trương Phương Uyên đã giải quyết thành công vấn đề ứng dụng phương pháp học tập tự điều chỉnh vào môn học GDTC cho sinh viên đại học không chuyên. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống lý thuyết nhận thức xã hội, quy trình chuẩn hóa thang đo định lượng và thực nghiệm sư phạm 2 đợt có đối chứng, công trình đã chứng minh tính ưu việt của mô hình tự điều chỉnh 4 giai đoạn trong việc nâng cao trải nghiệm, động lực và kết quả học tập môn bóng rổ của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing. Kết quả nghiên cứu cung cấp một giải pháp sư phạm khả thi, đóng góp thiết thực cho quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy GDTC theo định hướng tự giác và học tập suốt đời trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.