CHƯƠNG 1. CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤ C TIỄN 1.1 Tong quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về dạy học dựa vào PCHT cũng là một đề tài thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo Dương Thị Kim Oanh, Đỗ Thị Mỹ Trang, Lê Thị Vân Anh [14] các vấn đề có liên quan đến PCHT đã được nghiên cứu trên thế giới được biết đen là : Nghiên cứu các dạng phong cách học tập của Kolb và cộng sự Kolb và Fry’ (1975): mô hình của Kolb được xây dựng dựa trên lý thuyết học tập trải nghiệm, với chu trình học tập gồm 4 giai đoạn. Từ đó phân chia 4 loại PCHT: Phong cách phân kì (Người có thể nhìn mọi thứ từ những quan điểm khác nhau); Phong cách đồng hoá (Người có cách tiếp cận vấn đề ngắn gọn và logic); Phong cách hội tụ (Người luôn giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức của họ để tìm giải pháp cho vấn đề thực tế); Phong cách điều chỉnh (Người luôn dựa trên trực giác nhiều hơn logic, họ thường sử dụng phân tích của người khác, thích cách tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn).
Dựa trên mô hình của Kolb, Honey - Mumford đã xây dựng nên công cụ đo lường LSI và phân chia thành 4 loại PCHT. Bao gồm: Người hành động (linh hoạt và cởi mở; sẵn sàng hành động; thích được tiếp xúc với những tình huống mới; lạc quan về bất cứ điều gì mới và do đó khó có khả năng chống lại sự thay đổi). Người suy ngẫm (cẩn thận, kĩ lưỡng và có phương pháp; chu đáo; biết lắng nghe ý kiến của người khác và thu nhận ý kiến khác; hiếm khi đạt được kết luận). Người lý thuyết (có tính logic, một nhà tư tưởng đúng nghĩa; hợp lý và khách quan; giỏi trong việc đặt nhũng câu hởi thăm dò; có phương pháp luận; nắm bắt được toàn cảnh vấn đề).
Người thực tế (mong muốn thử nghiệm mọi điều vào thực tế; gắn với hiện thực, thực hành được trong thực tế, thiết thực đi thẳng vào vấn đề; định hướng theo kĩ thuật). Mô hình của Honey - Mumford được sừ dụng phổ biến cho đối tượng người lớn, phục vụ cho công tác quản lý là chủ yếu, không phù hợp với đối tượng HS phổ thông. 5 Nghiên cứu các dạng phong cách học tập của Fleming Từ năm 1987, với nồ lực cải thiện chiến lược dạy học của giảng viên và giúp sinh viên học hiệu quả hơn, Neil D.Fleming phát triển Danh mục VARK (The VARK Inventory) để tìm hiểu về sở thích học tập của sinh viên. VARK là viết tắt của các từ khóa gồm thị giác (Visual), thính giác (Aural), đọc/viết (Read/Write) và cảm giác vận động (Kinesthetic).
Từng từ khóa gắn với mỗi phong cách học tập tương ứng là phong cách học qua nhìn, phong cách học qua nghe, phong cách học qua đọc/viết và phong cách học qua sờ hoặc chạm/vận động/làm. Nghiên cứu các phong cách học tập trong giáo dục kĩ thuật Felder và Silverman (1988) cho ràng, sinh viên học theo nhiều cách (nhìn và nghe, phản ánh và diễn xuất, lí luận logic và trực giác, ghi nhớ, hình dung, vẽ phép loại suy và xây dựng mô hình toán học). Felder và Silverman (1988) xác định 5 nhóm phong cách học tập ứng với kiều người học như sau: 1) Phong cách học tập trực quan và trực giác - người học bằng trực quan và người học bằng trực giác 2) Phong cách học tập thị giác và thính giác - người học bằng thị giác và người học bằng thính giác; 3) Phong cách học tập quy nạp và diễn dịch - người học bằng quy nạp và người học bằng diễn dịch; 4) Phong cách học tập tích cực và phản ánh - người học tích cực và người học theo kiểu phản ánh; 5) Phong cách học tập tuần tự và tổng hợp - người học theo kiểu tuần tự và theo kiểu tổng hợp. Trong nghiên cứu Đạt đến cap độ thứ hai: Phong cách học tập và dạy học trong giáo dục khoa học tại trường đại học, Felder (1993) thay thuật ngừ “Auditory” (thính giác) bằng thuật ngữ có nghĩa rộng hơn là “Verbal” (ngôn ngừ nói) bao hàm cả âm thanh, từ ngừ hoặc công thức được nói hay viết.
Với quan niệm, phong cách học tập là sở thích đặc trưng cho cách tiếp nhận và xử lí thông tin, Felder (1993, 1996) đưa ra những đặc điếm chính tương ứng với các phong cách học tập sau: 1) Phong cách học tập trực quan hoặc trực giác ; 2) Phong cách học tập qua thị giác hoặc ngôn ngữ nói; 3) Phong cách học tập quy nạp 6 hoặc diễn dịch; 4) Phong cách học tập tích cực (học qua thử nghiệm, làm việc theo nhóm) hoặc phản ảnh; 5) Phong cách học tập tuần tự hoặc phân tích. Nghiên cứu các dạng phong cách học tập của Grasha - Richmann dựa trên quan sát không chính thức về cách sinh viên tiếp cận với các nhiệm vụ học tập (từ năm 1972), Anthony F. Grasha thấy được sự khác biệt về sở thích học tập của sinh viên khi làm việc với bạn học và giảng viên. Với sự hợp tác của Sheryl Hruska-Riechmann, Grasha đã phát triển danh mục xác định và phân loại các sờ thích học tập.
Danh mục phong cách học tập của sinh viên của Grasha- Riechmann xác định 6 phong cách học tập gồm cạnh tranh, họp tác, tránh né, tham gia, độc lập, phụ thuộc: 1) Phong cách học tập cạnh tranh; 2) Phong cách học tập hợp tác; 3) Phong cách học tập tránh né; 4) Phong cách học tập tham gia; 5) Phong cách học tập phụ thuộc; 6) Phong cách học tập độc lập. Trong tài liệu [3], Nguyễn Thị Hồng Chuyên đề cập đến tác giả Marilee B. Sprenger với tài liệu “Dạy học phân hóa thông qua PCHT và trí nhở” (2008) và The Hay Group với tập sách mang tên "One Style Doesn ’t Fit AH: The Different Ways People Learn and Why It Matters". Tác phẩm của Marilee B.
Sprenger đã mở ra một cánh cửa giúp người đọc biết thêm về cách phân loại khác của PCHT cùng với những lời khuyên làm thế nào để có thể dạy tốt, đáp ứng với các cá nhân để đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học. Điều đó đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu của Việt Nam tiếp cận và khai thác, vận dụng trong từng hoàn cảnh cụ thế trong bối cảnh giáo dục nước ta mới dừng lại ờ việc dạy học phân hóa dựa theo năng lực của người học mà chưa tính đến yếu tố phong cách của người học. Tập sách của The Hay Group trình bày những lợi ích thiết thực của việc phân loại các kiếu PCHT của mồi cá nhân người học. Trong tài liệu nghiên cứu Khám phá PCHT những đứa trẻ của bạn [25] của các tác giả Mariaemma Willis và Victoria Kindle Hodson đã nhấn mạnh vai trò của việc tìm hiểu về người học để có cái nhìn tổng thể PCHT của HS.
Từ đó 7 đưa ra một số bài tập chỉ dẫn về việc xác định PCHT của người học. Tác giả Carol Ann Tomlinson trong tài liệu Làm the nào đê dạy học phân hóa trong lớp học đa trình độ [27] cũng đề cập đến việc làm thế nào để lập kế hoạch bài học cho lớp học có nhiều HS có nền tảng tri thức khác nhau ngoài một số yêu cầu cơ bàn càn đáp ứng như sự sẵn sàng, sự hứng thú học tập thì giờ học muốn đạt hiệu quả cần phải xác định và thích ứng với PCHT của HS. Tác giả Lynne Celli Sarasin đã có nghiên cứu với tên Quan điêm phong cách học tập: tác động trong lớp học (2006) [22], Trong nghiên cứu này tác giả cũng giới thiệu vài nét khái lược tổng quan về PCHT, tầm quan trọng của việc hiểu ý nghĩa của nó trong quá trình dạy học. Cụ thể hơn nữa tác giả nghiên cứu sâu về PCHT và tác động của nó đối với đối tượng HS bậc sau trung học phổ thông.
Với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học các tác giả quan tâm đến PCHT tại Việt Nam như Nguyễn Thị Hồng Chuyên [3], đã cụ thể hóa và làm rõ hơn quan điểm về PCHT của HS. Chỉ ra được thực trạng dạy học dựa vào PCHT bậc tiểu học tại Việt Nam đồng thời đề xuất quy trình dạy học theo PCHT đối với HS tiểu học. Theo [7], tác giả Trần Văn Hưng đã phân tích các loại năng lực phát triển năng lực dựa vào PCHT và đưa ra các quan điểm về PCHT của sinh viên, đề xuất hướng thiết kế bài dạy và quy tình đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa vào PCHT VAK. Còn tác giả Hoàng Tiến Dũng [4] đã tập trung nghiên cứu về PCHT của người lớn tại các trung tâm giáo dục thường xuyên cho thấy người học sẽ thành công hơn nếu như người dạy kết hợp phong cách dạy của họ với PCHT của người học.
Tác giả Nguyễn Công Khanh trong tài liệu [10] đã đề cập đến PCHT. Trong nghiên cứu này tác giả đã khái quát những nét cơ bản về PCHT, đồng thời sừ dụng bộ công cụ nhằm nghiên cứu PCHT của sinh viên dựa vào sự tham khảo 8 các công trình của nước ngoài. Trên cơ sở đó, tác giả đã kiến nghị một số giải pháp phát triển PCHT tích cực cho sinh viên hai trường mà tác giả nghiên cứu. Như vậy các tác giả trên tập trung vào nghiên cứu các mô hình về PCHT đáng chú ý trên thế giới, đồng thời tập trung vào nghiên cứu về ứng dụng PCHT trong dạy và học.
Bên cạnh đó các nghiên cứu hướng đến xây dựng bộ công cụ nhằm khảo sát PCHT của người học. Một số công cụ được xây dựng nhằm thăm dò, thống kê PCHT của người học nổi tiếng được biết đến là công cụ của Dunn, Dunn và Price (LSI, Learning Styles Inventory). Từ kết quả tổng quan và nhận định được trình bày ở trên, luận văn tập trung làm rõ hơn những vấn đề sau: 1) Dạy học dựa vào PCHT của HS thực hiện theo quan điểm dạy học nào? 2) Nên lựa chọn cách phân loại nào để nghiên cứu thực trạng PCHT của HS lớp 10? 3) Ở độ tuổi tâm sinh lý đang phát triển, đặc điểm PCHT của HS lớp 10 có gì càn chú ý? 4) Tổ chức dạy học dựa vào PCHT của HS lớp 10 cần tuân theo nguyên tắc, quy trình dạy học như thế nào? Sử dụng các phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học nào là hợp lý và nâng cao hiệu quả dạy học trong bổi cảnh thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018? 1. Quan điêm vê dạy học phát triên phâm chât năng lực học sinh và một số định hướng thực hiện 1.