phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rèn luyện kỹ năng học tập cho học viên bổ túc THPT ở trung tâm giáo dục thƣờng xuyên. Chƣơng 2: Thực trạng kỹ năng học tập và rèn luyện kỹ năng học tập cho học viên bổ túc THPT ở trung tâm giáo dục thƣờng xuyên. Chƣơng 3: Biện pháp rèn luyện kỹ năng học tập cho học viên bổ túc THPT ở trung tâm giáo dục thƣờng xuyên. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC TẬP CHO HỌC VIÊN BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động học tập Hoạt động học tập là hoạt động cơ bản đảm bảo cho sự tồn tại của cá nhân và xã hội và quyết định cho sự phát triển của cá nhân và xã hội nên đã đƣợc các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau nhƣ triết học, giáo dục học, tâm lý học. tập trung nghiên cứu thể hiện trong các học thuyết lý luận, quan điểm khoa học. Thuyết liên tưởng bắt đầu từ Aritxtôt sau đó là các nhà triết học duy cảm Anh nhƣ J.Watson (1878 - l958) và các nhà tâm lý học hành vi khác nhƣ Tolman, Skinner, Bandura và một số tác giả của trƣờng phái hành vi đã nghiên cứu và xác định các mô hình học tập.
Họ đã xây dựng đƣợc các kiểu học tập và các quy luật học tập là quy luật tâm thế, quy luật luyện tập, quy luật di chuyển liên tƣởng và quy luật hiệu quả.[29], [61] - Lý thuyết kiến tạo nhận thức của J.Piaget (1896-1980) và học tập khám phá của J.Piaget, học tập là quá trình cá nhân hình thành, lĩnh hội các tri thức cho bản thân mình. [63] - Các nhà tâm lý học Xô viết nhƣ: L.[29], [48], [27] đã trình bày các nghiên cứu của mình về lý thuyết hoạt động học tập thông qua lý thuyết tâm lý học hoạt động, nhƣ: L. Vƣgôtxki đã nêu ra khái niệm về trình độ hiện có và vùng phát triển gần nhất, quan hệ của chúng với việc dạy học. Hoạt động học tập thực chất là quá trình 10 trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội đƣợc kết tinh trong các công cụ, kí hiệu do loài ngƣời sáng tạo ra.
Galperin với lý thuyết về các bƣớc hình thành hành động trí óc và khái niệm đã đƣa ra các mức của hành động; các bƣớc hình thành hành động trí tuệ: bƣớc 1: lập cơ sở định hƣớng của hành động, bƣớc 2: hành động với vật thật hay vật chất hóa, bƣớc 3: hành động nói to không dùng đồ vật, bƣớc 4: hành động với lời nói thầm, bƣớc 5: hành động rút gọn với lời nói bên trong. Lêôntiep [48], đã đƣa ra lý thuyết hoạt động nói chung và hoạt động học tập nói riêng với các thành tố cơ bản trong cấu trúc hoạt động học tập: động cơ - hoạt động; mục đích - hành động; thao tác - phƣơng tiện. Theo lý thuyết hoạt động, hoạt động học tập là yếu tố trực tiếp hình thành năng lực, kỹ năng và nhân cách của con ngƣời. Thông qua hoạt động học tập để con ngƣời thu nhận kinh nghiệm của các thế hệ trƣớc hình thành kinh nghiệm của bản thân và thông qua hoạt động học tập để hình thành chính kỹ năng học tập của bản thân mỗi con ngƣời.
Thông qua hoạt động học tập, con ngƣời tự phát triển năng lực sáng tạo của bản thân, làm thay đổi bản thân, nâng cao kiến thức, hình thành kỹ năng, phát triển nhân cách bản thân mỗi con ngƣời. Học tập là hoạt động thông qua quá trình nội tâm hóa và ngoại tâm hóa, tiếp thu và ứng dụng các kiến thức và kỹ năng vào cuộc sống, đó là quá trình con ngƣời đã hoạt động cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân con ngƣời. [31] Anthony "Tony" Peter Buzan [10], [11], đƣa ra phương pháp tư duy Mind map (Sơ đồ tư duy- Giản đồ ý) và rèn luyện kỹ năng học tập theo phƣơng pháp Buzan, đƣợc thể hiện trong cuốn sách “Hướng dẫn kỹ năng học tập theo phương pháp Buzan - Con đường ngắn nhất để giúp bạn thành công trong học tập”. Tony Buzan đã hoạt động không mệt mỏi giúp mọi ngƣời ở các độ tuổi khác nhau trên toàn thế giới tận dụng tối đa khả năng tƣ duy của 11 họ bằng việc áp dụng các kỹ thuật lập Sơ đồ tƣ duy, đọc nhanh và nhớ.
Trong sách hƣớng dẫn này, tác giả kết hợp những kỹ thuật trên với chƣơng trình Bost độc đáo để giúp ngƣời học ở mọi trình độ tiếp cận một phƣơng pháp học mới và hoàn toàn tích cực. Bằng việc thực hành chúng, bạn sẽ tự tin hơn và kỹ năng phát huy năng lực học tập của bản thân qua đó cũng phát triển, dù bạn học môn gì hay ở trình độ nào. Ở Việt Nam, vấn đề hoạt động học đã đƣợc các nhà khoa học tâm lý - giáo dục nghiên cứu từ lâu, đặc biệt trong những năm gần đây để đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới của giáo dục. Nhiều nhà khoa học tâm lý - giáo dục đã quan tâm nghiên cứu đến hoạt động học của học sinh, sinh viên nhƣ Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Hồ Ngọc Đại, Phan Trọng Ngọ, Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Vũ Trọng Rỹ, Đặng Thành Hƣng, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên.
[82], [83], [84] Có thể kể ra một số nghiên cứu: Nguyễn Cảnh Toàn nghiên cứu về mô hình phƣơng pháp dạy tự học; Nguyễn Kỳ [46] nghiên cứu quá trình dạy tự học, tự đào tạo - một phƣơng pháp và một chiến lƣợc giáo dục hiện đại; Trần Bá Hoành bàn về vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo. Các nghiên cứu của các tác giả trên cũng đã đề cập đến các yếu tố tâm lý của ngƣời học trong đào tạo từ xa, nhất là các yếu tố nội lực nhƣ nhu cầu, ý chí, động cơ học, thái độ học tập. Đỗ Thị Thanh Mai [55] với nghiên cứu “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên” đã nghiên cứu sâu về hoạt động học tập của sinh viên và đánh giá mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trong mối quan hệ với kết quả học tập. Các nghiên cứu về hoạt động học tập của các tác giả trong và ngoài nƣớc trong cả bình diện lý luận và nghiên cứu thực tiễn: khái niệm, bản chất, cấu trúc và thực trạng hoạt động học tập của ngƣời học ở các lứa tuổi khác nhau tại các cơ sở giáo dục.
Các nghiên cứu về kỹ năng học tập và rèn luyện kỹ năng học tập Các nghiên cứu về kỹ năng hoạt động: Có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các kỹ năng hoạt động của con ngƣời gắn với tên tuổi của các nhà khoa học: B. Kovaliov, Annett, và các tác giả phƣơng Tây hiện đại đã nói ở trên.Các công trình nghiên cứu về kỹ năng hoạt động trong mối quan hệ giữa kỹ năng kĩ xảo;kỹ năng và năng lực, điều kiện hình thành kỹ năng cũng nhƣ các kỹ năng cần có trong các hoạt động khác nhau. [15],[29],[48],[68] Tác giả Hoàng Anh [3] với nghiên cứu “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên”; Dƣơng Thị Thoan [73] với luận án tiến sỹ “Kỹ năng giảng dạy của sinh viên đại học trong thực tập sư phạm”; Dƣơng Thị Thanh Thanh [70] với nghiên cứu về kỹ năng quản lý dạy học trong đề tài “Sự thích ứng với quản lý dạy học của hiệu trưởng trường tiểu học”. đã nghiên cứu kỹ năng hoạt động ở các hoạt động khác nhau.
Các công trình nghiên cứu đó trên cơ sở xây dựng cơ sở lý luận về kỹ năng hoạt động của sinh viên, cán bộ quản lý, phát hiện thực trạng mức độ kỹ năng hoạt động để từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao kỹ năng hoạt động cho sinh viên và cán bộ quản lý. Các nghiên cứu về kỹ năng học tập: X I. Kixengof [106] tiến hành nghiên cứu sự hình thành kỹ năng hoạt động sƣ phạm của sinh viên. Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa kỹ năng hoạt động sƣ phạm với kỹ năng lao động sản xuất, quá trình hình thành, X.
Kixengof chia quá trình hình thành kỹ năng hoạt động sƣ phạm thành 5 giai đoạn: Giai đoạn 1: giới thiệu cho sinh viên những hoạt động sắp phải thực hiện nhƣ thế nào? 13 Giai đoạn 2: Trình bày, diễn đạt các quy tắc lĩnh hội hoặc tái hiện lại những hiểu biết cơ bản, nền tảng mà dựa vào đó các kỹ năng, kỹ xảo đƣợc hình thành. Giai đoạn 3: Trình bày mẫu hành động (tránh bắt chƣớc mù quáng) Giai đoạn 4: Sinh viên tiếp thu hành động qua thực tiễn. Giai đoạn 5: Đƣa ra các bài tập độc lập và có hệ thống. Sinh viên khi thực hành theo các giai đoạn sẽ hình thành và đƣợc củng cố các kỹ năng học tƣơng ứng với từng giai đoạn.
Cudơmina [68] nghiên cứu kỹ năng trong hoạt động sƣ phạm. Cấu trúc hoạt động sƣ phạm gồm 4 thành phần: Nhận thức, thiết kế, giao tiếp, tổ chức. Vì vậy kỹ năng học tập trong hoạt động sƣ phạm cũng bao gồm 4 kỹ năng cơ bản: Kỹ năng nhận thức; Kỹ năng thiết kế; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng tổ chức. Kevin Barry và Len King coi kỹ năng là năng lực thực hành của giáo viên, nên sắp xếp hệ thống kỹ năng dạy học thành ba nhóm tƣơng ứng với ba giai đoạn của quá trình dạy học.
Đó là nhóm kỹ năng xây dựng chƣơng trình giảng dạy, nhóm kỹ năng giảng dạy và nhóm kỹ năng đánh giá. Các nhóm kỹ năng này của giáo viên khi tƣơng tác với học sinh sẽ giúp học sinh phát triển các nhóm kỹ năng học tƣơng ứng (kỹ năng xây dựng chƣơng trình học tập; kỹ năng học tập; kỹ năng đánh giá trong học tập).[68] Nguyễn Quang Uẩn [84], Lê Khánh Bằng [6], Hà Thị Đức [25], Trần Quốc Thành [71], Nguyễn Văn Tuân [80], Trịnh Thị Xim [94],…trong các công trình nghiên cứu, cho rằng rèn luyện kỹ năng học tập là điều kiện quan trọng để ngƣời học tiến hành đƣợc hoạt động học tập và nâng cao kết quả học tập, đồng thời giúp cho ngƣời học có thể tiếp tục học tập sau khi họ hoàn thành giáo dục đại học chính quy hoặc là điều kiện để ngƣời học chủ động trong học tập và học tập suốt đời. Các tác giả phân chia hệ thống kỹ năng học 14 tập của sinh viên thành các nhóm kỹ năng định hƣớng, nhóm kỹ năng lập kế hoạch, nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch, nhóm kỹ năng kiểm tra đánh giá.